name="movie" value="http://nghenhac.info/AudioPlayer/AudioPlayer_Single.swf" />

Snow Effect

Thứ Sáu, 3 tháng 9, 2010

đất khách (hồi thứ nhất chia ly)

Lời nói đầu...

Tuổi trẻ, đó là lúc mà tình yêu bắt đầu, nảy nở như những nụ hôn trong ánh sương mai... Tâm hồn cũng như những nụ hoa kia, có khi khép kín vì vẫn e thẹn để đón lấy ánh ban mai, có khi nở rộ để đón nhận ánh nắng tình yêu và đôi khi...cũng lụi tàn cho những bi kịch không lời...
Vì thế, hỡi ai đó ơi, khi bạn đang có tình yêu thì hãy trân trọng mỗi giây phút mình có được, đừng e thẹn khi nói lời yêu một ai đó, hãy thể hiện tình cảm mình cho nhau nhiều hơn bởi những dang dở, những muộn phiền là những điều thường thấy trong tình yêu, và khi chúng đến thì cũng là lúc những tiếc nuối cũng sẽ đến...
Sáng mở mắt dậy, thấy trời trong xanh, những tia nắng đầu tiên của ngày mới bắt đầu len lỏi khắp mọi ngóc ngách con đường.
Hôm nay Thuỷ hẹn gặp Thanh tại nơi ngày xưa 2 người vẫn thường hay gặp lần này biết đâu lại là lần cuối cùng có thể hẹn với anh.Sắp tới Thuỷ phải đi xa không biết bao giờ mới có thể trở lại cái mảnh đất Thuỷ Nguyên này.Nhiều lúc Thuy tự hỏi tình yêu là gì. Chỉ đơn giản khi hai người yêu nhau, tức là họ cần có nhau trong cuộc đời này. Sự có mặt của người này khỏa lấp nỗi trống vắng trong lòng kẻ khác. Yêu là một thứ lí lẽ chẳng bao giờ có thể giải thích thỏa đáng cả. Có lẽ vì vậy mà tình yêu luôn là một điều bí ẩn chẳng ai khám phá nổi chăng.Tại sao nhiều người yêu nhau lại không thể đến được vơi nhau phải chăng đó là định mệnh,hay do bản thân họ không biết cách vượt qua đinh mệnh.Biết sẽ nói gì với anh đây nhỉ nhưng cũng phải quyết tâm thôi ?
Thuỷ là một cô gái có dáng vóc cân đối ưu nhìn,làn da trắng hồng khoẻ mạnh ăn nói nhẹ nhành dễ nghe .Nhưng cuộc đời lại lắm éo le,không biết có phải bởi vì cô có gò má hơi cao không người ta bảo tướng con gái gò má cao là hay sát chồng lắm.Có lẽ vì vậy mà cuộc đời cô dang dở cô lấy Khánh nhưng 2 người chưa kịp tổ chức hôn nhân thì anh ta bị tai nạn chết.1 năm sau cô lấy Vương cứ tưởng hạnh phuc sẽ đến được với mình nào ngờ chỉ năm anh ta bị lâm bệnh mà chết.Từ đấy cô mang tiếng là gái sát chồng tuy mới 25 tuổi mà trai làng không ai dám đến hỏi nữa kể cả nhưng người goá vợ vì sợ cái số của cô.
Thuỷ và Thanh yêu nhau từ khi cả 2 còn học trung cấp ba do hoàn cảnh gia đình mà Thuỷ không theo học tiếp được Thanh thì theo gia đình vào tận Lâm Đồng làm kinh tế mới lên 2 người phải xa nhau.Nhưng làm được 3 năm thì Thanh lại trở về biết chuyện của Thuỷ .Anh cũng thương cô lắm muốn cưới cô làm vợ dù ra sao cũng mặc kệ.Nhưng bố mẹ anh ra sức ngăn cản không cho 2 người lấy nhau.Bà Nhân mẹ anh còn doạ tự tử nếu anh đưa cô về nhà rồi bà còn thuê cả người đến nhà Thuỷ để gây sự chửi bới để hai không thể yêu được nhau .Bố mẹ Thuỷ cũng đã già làm sao chụi được cảnh bị người ta thường xuyên sỉ nhục lên cũng tự ai thà con mình không lấy ai chứ không lấy Thanh.
Đã 8h sáng rồi mà hẹn mãi sao anh chưa thấy đến Thuỷ sốt ruột đi ra đi vào
Và kia anh đến rôì kìa cô thầm reo trong lòng
Chào em Thanh chủ động nói trước hôm nay em có việc gì quan trọng mà hẹn anh ra đây gấp vậy,mà sao em có vẻ hơi buồn có chuyện gì ah.
Anh ngồi xuống đi Thuỷ khẽ nói em có việc này muốn nói
Anh ah em nghĩ kỹ rồi mình chia tay thôi ,chuyện chúng mình rồi sẽ chẳng đi đến đâu đâu em sắp phải đi xa rồi.
Thanh vôị hỏi sao vậy em có chuyện gì vậy mà em định đi đâu,cứ từ từ đã anh sẽ thu sếp chuyện gia đình mà cùng lắm là mình cùng bỏ nơi này mình đi đến nơi mà chẳng ai biết mình là ai anh sẽ tự thu xếp được mà.
Thuỷ nói không được đâu anh ơi trước đây em đã có lỗi với anh 1 lần rồi khi không đợi được anh quay về bây giờ em không thể tiếp tục làm khổ anh nữa.
Khổ cái gì mà khổ anh yêu em và anh sẽ thu xếp được mà.
Không được đâu anh còn gia đình còn tương lai phía trước, bây giờ anh đã đỗ đại học rồi tương lai anh sẽ là giáo viên làm sao có thể bỏ hết để lấy người đã 2 đời chồng như em được .Mà còn gia đình em nữa sau này mọi người sẽ sống ra sao.Gia đình em đã nhận tiền của người ta rồi..
Nhận tiền của ai mà nhận tiền gì chứ nhà em vay gì của họ
Không phải nhà em vay mà hôm nay bà Hà béo ở trên phố đã đưa tiền cho bố mẹ em và thuyết phục họ cho em lấy chồng Hàn Quốc rồi em cũng đã đồng ý rồi ngày kia là lên nhà bà ấy rồi ,em xin lỗi anh nha.
Tại sao em phải lấy chồng Hàn Quốc chẳng nhẽ anh không thể lo được cho em ah lấy nó rồi sẽ ra sao ,bao giờ mới về được.Hay hôm nay mình bỏ đi thôi mặc kệ họ.
Không được đâu Thuỷ khóc bỏ đi thì bố mẹ em sống làm sao được với người ta ,với gia đình anh nữa còn các em của em nữa chứ chúng cần phải được đi học sau này .Thôi em xin lỗi anh em đi đây
Nói rồi cô vừa chạy vừa khóc mặc cho Thanh chết lặng đứng nhìn theo bóng người tình khuất sau hàng cây rồi thất thểu bước đi về.Khi đi ra đây anh phấn khởi biết bao nhiêu khi về chân như đeo đá lê từng bước một.
Có những tình yêu mang rất nhiều ẩn khúc trong lòng, bởi tình yêu đó không có một tương lai bên nhau trọn vẹn. Anh ấy biết, cô ấy hiểu, họ đã thấy trước nỗi đau xa cách, nhưng… họ vẫn cứ yêu. Cô ấy cảm thấy yêu anh vô cùng và không thể xa anh, anh ấy cảm thấy cô hết lòng vì anh, yêu anh thật trọn vẹn, “nhưng anh không dám hứa sẽ che chở cho em suốt đời”.
Đừng hỏi tại sao, đừng hỏi lý do, ở đời, có những con người sống không theo lối mòn, và họ phải chấp nhận cái giá rất đắt, nhưng. Bù lại, họ được “sự trải nghiệm”, sống là để trải nghiệm, trải nghiệm là để không tiếc 1 kiếp người.
Người đi mang mất hồn tôi nửa
Một nửa nhìn theo đến dại khờ
Gìơ đây đôi ngả thôi đành hết
Kiếp này không phận biết làm sao
Khi bạn yêu ai đó với tất cả trái tim TINH YÊU đó sẽ ko bao giờ mất đi ngay cả khi bạn phải chia xa.Khi bạn yêu một ai đó dù bạn đã làm tất cả mà vẫn ko dc đáp lại thì bạn hay để họ ra đi.Vì nếu tình yêu đó là chân thật thì chắc chắn nó sẽ quay về bên bạn. Dù sao đi nưa thì trái đất vẫn cứ quay ngày mai sẽ là một ngày mới.
Thuỷ chạy về đến nhà thì gặp ngay bà Hà tại cửa .
Bà Hà người khoảng 50 người béo hồng hai mặt phi ra như hai cái bánh đúc môi bà mỏng dính ăn mặc hoa hoét vàng đeo lủng lẳng hai tai.Mồm lúc nào cũng tươi cười như hoa nói cười không ngớt.
Ôi con gái xinh đẹp về rồiy sao phải khóc thế con ,có gì đâu mà phải buồn đâu con lấy chồng Hàn Quốc thì có gì mà ghê gớm đâu ở cái huyện Thuỷ Nguyên này có biết bao nhiêu cô gái lấy chồng Hàn họ có sao đâu xã mình còn ít chứ mấy xã bên nhiều vô kể con ạ .Sang bên đó con sẽ gặp rất nhiều đồng hương đấy.Không thế mà mấy xã bên họ lại kiện chủ tịch xã và chủ tịch huyện này vì để con em họ ế vợ.Sang bên đó con có điều kiện giúp đỡ gia đình ,giúp đỡ các em ăn học sau này chúng lớn lên cũng không phải khổ như chị và cha mẹ con cũng được nhờ phần nào.
Thuỷ nói nhỡ người ta cũng chê cháu có tướng sát chồng như mọi người ở nhà thì sao .
Hi hi bà Hà nói bên đó họ đâu có mê tín như người mình đâu bọn chúng toàn là những người lớn tuổi rồi cưới được cô vợ xinh đẹp như con là tốt rồi còn đòi lựa chọn cái gì nữa.
Vậy nếu họ nhiều tuổi rồi mà cháu lấy họ mà người ta lại mất sớm như anh chồng trước đây của cháu thì cháu biết làm thế nào bên đó một thân một mình mà tiếng Hàn Quốc cháu cũng không biết.
Ôi chao con gái ơi sao con nghĩ ngợi nhiều vậy ,chưa biết tiếng học vài ngày là biết ngay thôi mà tiếng đo dẽ thôi già như cô con học được mà .Còn nếu như chồng con nó chết sớm thì cũng tốt chứ sao bên đó người ta mua bảo hiểm lớn lắm nếu chết sớm con càng lợi được hưởng nhiều tiền sau này chẳng phải làm cũng có tiền bảo hiểm của chồng rồi.
Bà này nghĩ đến chuyện chồng chết mà cứ nhẹ nhàng như không thế nhỉ đúng là những bọn buôn người nhưng mình đã vậy rồi thì biết lựa chọn thế nào được nữa Thuỷ nghĩ bụng như vậy nhưng cô chỉ im lặng
Thôi con đừng nghĩ ngợi nhiều cho mệt để cha mẹ lại lo lằng thêm bây giờ cô phải đi xuống làng dưới ở đó cũng có thêm 2 người bạn sẽ đi cùng đợt này với con cho có bạn dù sao cũng có người cùng quê con ạ.

Thứ Ba, 10 tháng 8, 2010

di choi


Thứ Tư, 21 tháng 7, 2010

Chống phân mảnh ổ đĩa nhanh chóng trong Windows 7

Chống phân mảnh ổ đĩa nhanh chóng trong Windows 7



Quản Trị Mạng - Mỗi khi bạn cài đặt hay xóa một phần mềm nào đó, ổ đĩa của bạn sẽ bị phân mảnh. Phân mảnh ổ đĩa có thể làm máy tính của bạn chạy chậm đi. Để chống phân mảnh ổ đĩa, trong phạm vi bài báo này, tôi xin giới thiệu 2 phương pháp.

Cách 1: Sử dụng công cụ Built-In Defrag trong Windows 7

Công cụ có sẵn trong Windows 7 này tiện ích hơn hẳn so với trong Windows Vista. Tuy nhiên, nó thiếu một số lựa chọn cho người dùng. Đây là lý do tại sao cách 2 được đưa ra sau đó.

Để chạy chống phân mảnh trong Windows 7, thực hiện các bước sau:

Trên thẻ Tools, chọn Defragment Now

Bên cạnh đó, bạn có thể mở công cụ chống phân mảnh bằng cách gõ “dfrgui” ở menu Start.

Công cụ chống phân mảnh ổ đĩa gồm 3 chức năng:

- Phân tích một hoặc nhiều phân vùng.

- Thực hiện chống phân mảnh trên một hay nhiều phân vùng.

- Lên lịch thực hiện chống phân mảnh

Để phân tích, chọn phân vùng rồi kích “Analyze”. Thông tin sẽ được hiển thị sau khoảng vài giây.

Để thực hiện chống phân mảnh, chọn phân vùng cần phân tích và kích “Defragment disk”. Quá trình sẽ mất khoảng vài phút tùy thuộc vào dung lượng ỗ đĩa và dung lượng được sử dụng trong phân vùng. Không giống Windows Vista, Windows 7 bao gồm một quá trình cập nhật tình trạng của quá trình, giúp bạn biết rõ thời gian còn lại cũng như bao nhiêu phần trăm công việc đã được thực hiện.

Khi kết thúc, tỉ lệ ổ đĩa được chống phân mảnh sẽ được hiển thị.

Để đặt lịch thực hiện chống phân mảnh, kích “Configure schedule

Trong Windows 7,có một câu lệnh chống phân mảnh là DEFRAG.exe, được sử dụng để đặt lịch thực hiện chống phân mảnh cùng với một số chức năng khác.

Cách 2: Sử dụng Auslogic Disk Defrag

Những ai cảm thấy không hài lòng về công cụ chống phân mảnh trong Windows 7 thì có thể sử dụng một số phần mềm khác tốt hơn, ví dụ như Auslogic Disk Defrag. Phần mềm này miễn phí, cài đặt dễ dàng chỉ với vài lần kích chuột.

Sau khi cài đặt, chạy Disk Defrag trong menu Start. Sẽ có một tin nhắn cảm ơn của phần mềm, kích “Yes

Auslogic Disk Defrag có rất nhiều tính năng hữu dụng. Một trong số đó là khả năng phân tích phân vùng, hiển thị tình trạng phân mảnh. Chọn phân vùng cần chống phân mảnh, chọn Defrag > Analyze.

Với phần mềm Auslogic Disk Defrag, bạn có thể đặt lịch chống phân mảnh, loại các file hay tệp tin.

Chương trình này còn có phương thức “Defrag & Optimize” để tối ưu hóa các phương pháp như tập hợp các vùng trống, sắp xếp một cách thông minh các file hệ thống, di chuyển các file từ khu vực lưu trữ MFT tới các phần còn lại của ổ đĩa.

Quá trình chống phân mảnh diễn ra rất nhanh.

Như vậy là bạn đã hoàn thành xong chống phân vùng ổ cứng

Thứ Hai, 29 tháng 3, 2010

Quê hương là bản giao hưởng đầu tiên của Việt Nam





Quê hương (giao hưởng)

Quê hương là bản giao hưởng đầu tiên của Việt Nam[1][2], do nhạc sĩ Hoàng Việt sáng tác. Được sáng tác trong thời gian Hoàng Việt đi du học tại Bulgaria (1958-1964), tác phẩm bao gồm 4 chương, với nội dung nói về cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam chống quân xâm lược và thống nhất đất nước.

Hoàn cảnh sáng tác

Nhạc sĩ Hoàng Việt (1928-1967) sinh tại Chợ Lớn, từng tham gia kháng chiến chống Pháp ở Nam Bộ, sau đó tập kết ra Bắc, học tại Trường Âm nhạc Việt Nam. Năm 1958, ông được cử sang học tại Nhạc viện Quốc gia Bulgaria ở Sofia[3]. Tại nơi đây, "những ký ức quê hương" và "trách nhiệm của một công dân" đã giúp ông viết nên bản giao hưởng số 1 mang tên Quê hương, được hoàn thành vào năm 1964 với lời đề tặng "Kính dâng Nam bộ trong cuộc chiến đấu anh dũng chống ngoại xâm"[1]... Tác phẩm đã được biểu diễn trong dịp thi tốt nghiệp Nhạc viện vào năm 1964, lần hai vào cuối năm 1964 và lần ba vào đầu năm 1965 theo chính lời đề nghị của Giám đốc Nhạc viện Sofia. Chính Giám đốc Nhạc viện Sofia đã nhận xét về bản giao hưởng: "Bản giao hưởng của Hoàng Việt không phải là một tác phẩm tốt nghiệp mà thật sự là một tác phẩm lớn của Việt Nam... Đó là một tác phẩm thành công rực rỡ"[2].

Trở về Hà Nội, bản giao hưởng cũng được công diễn vào tháng 3 năm 1965, ít lâu sau đó Hoàng Việt đi vào Nam và qua đời năm 1967. Bản giao hưởng đã đưa ông trở thành một trong những nhạc sĩ đầu tiên đặt nền móng cho âm nhạc giao hưởng Việt Nam[3].

Tác phẩm đã được Dàn nhạc giao hưởng Bulgaria biểu diễn và thu thanh. Dàn nhạc giao hưởng Việt Nam cũng từng biểu diễn tác phẩm nhiều lần[4].
Nội dung

Bản giao hưởng gồm 4 chương, với nhiều hình tượng âm nhạc khác nhau nhưng đều hướng tới một nội dung chung là nói lên cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của nhân dân Việt Nam nói chung và Nam Bộ nói riêng. Tác giả đã sử dụng chất liệu từ những bài hát cách mạng và dân ca để làm chủ đề của tác phẩm, "được phát triển nhuần nhuyễn với những cảm xúc sáng tạo bằng bút pháp khá điêu luyện"[2], tạo nên âm hưởng hào hùng.

Chương I

Chương I diễn tả không khí trong những ngày Cách mạng tháng 8 và Kháng chiến chống Pháp, được viết dưới hình thức sonate.

* Phần mở đầu, chủ đề lấy âm hưởng bài Hội nghị Diên Hồng của Lưu Hữu Phước, do kèn cor đảm nhiệm.
* Chủ đề 1, mang tính hành khúc, lấy âm điệu từ bài Lên đàng (Lưu Hữu Phước), do toàn dàn nhạc chơi.
* Chủ đề 2, lấy câu nhạc đầu tiên từ bài Nam bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn).
* Phần coda của chương 1, có sự kết hợp của Lên đàng và Nam bộ kháng chiến và phần dạo đầu bài Chiến thắng Điện Biên (Đỗ Nhuận), để thể hiện ngày kháng chiến thắng lợi.

Chương II - Andantino Pastorale

Chương II mang tính chất trữ tình, miêu tả quê hương trong những ngày hòa bình lập lại. Được viết dưới hình thức ronto, có cấu trúc A - B - A1 - C - A - D - A - Coda.

* Chủ đề A mang âm hưởng bài Lên ngàn (Hoàng Việt).
* B, C, D là các épisode (đoạn chen), lấy âm điệu lần lượt từ các bài hát Kỵ binh Việt Nam (Lê Yên), Mùa lúa chín (Hoàng Việt), Cây trúc xinh (dân ca quan họ Bắc Ninh) và Quê tôi giải phóng (Văn Chung). Épisode D mang âm hưởng vui vẻ, sôi động.
* Kết thúc chương, tác giả kết hợp âm điệu ba bài Lên ngàn, Quê tôi giải phóng, Mùa lúa chín dưới hình thức phức điệu.

Chương III - Allegro

Chương III là chương nhanh, kịch tính, nhằm miêu tả cuộc Kháng chiến chống Mỹ. Được viết dưới hình thức sonate, bao gồm 3 chủ đề và hai hình tượng âm nhạc chính:

* Chủ đề 1, mang tính dữ dội, đen tối, với nhiều nốt nhấn nặng nề ở bè trầm và nhiều biến âm, thể hiện hình tượng cái ác.
* Chủ đề 2 biến đổi giai điệu bài Giải phóng miền Nam (Huỳnh Minh Siêng). Chủ đề 3 là âm điệu bài Đợi chờ. Hai chủ đề được xây dựng như hình tượng chính nghĩa, đối lập với chủ đề 1[5].

Trong phần phát triển của chương này, âm nhạc mang tính căng thẳng, kịch tính cao độ để thể hiện cuộc chiến tranh một mất một còn, cuối cùng phần tái hiện của chương mang âm hưởng hai bài Lên đàng và Giải phóng miền Nam để biểu hiện sự thắng lợi.
Chương IV - Largo espressivo

Chương IV là chương chậm, mang âm hưởng vui tươi, rộn rã, thể hiện khung cảnh quê hương thanh bình và niềm vui khi đất nước độc lập. Chương này được xây dựng với hình thức 3 đoạn phức cùng phần coda trang trọng, hoành tráng; có sự tham gia của dàn hợp xướng bên cạnh dàn nhạc giao hưởng.
<

Thứ Ba, 23 tháng 3, 2010

Thành phố của sông hồ 1000 năm Thăng Long - Hà Nội

1000 năm Thăng Long - Hà Nội



Thành phố của sông hồ





Hồ Gươm

Hà Nội là đô thị của các sông hồ. Cái tên “Hà Nội” diễn nôm là thành phố “trong sông” hay các câu ca dân gian cửa miệng của người Hà Nội đã chứng tỏ điều đó:

Nhĩ Hà quanh Bắc sang Đông
Kim Ngưu, Tô Lịch là sông bên này

Hay:

Khen ai khéo họa dư đồ
Trước sông Nhĩ Thủy sau hồ Hoàn Gươm”
“Khen ai khéo họa dư đồ
Giữa nơi thành thị có hồ trong xanh”

Nói là sông hồ, nhưng thực ra với hồ Hà Nội hồ cũng là sông, vì các hồ như Hoàn Kiếm, Tây Hồ, Thủ Lệ, Trúc Bạch…đều là dấu tích của các khúc sông chết, sản phẩm đôi dòng của sông Cái (sông Mẹ)
Hà Nội được dựng lên trên cái nền của bãi sa bồi của sông Hồng, nơi ngã ba sông, địa thế bằng phẳng thoáng đãng, giao thông đi lại bằng đường bộ, đường thủy thuận lợi, xứng đáng với đất trung tâm tụ hội. Chẳng thế mà trong Chiếu dời đô của Lý Công Uẩn đã coi Thăng Long là: “Ở trung tâm bờ cõi đất nước, được cái thế rồng cuộn, hổ ngồi, ở vị trí ở giữa bốn phương Đông, Tây, Nam, Bắc: Tiện hình thế núi sông sau trước. Ở đó địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ vì ngập lụt, muôn vật rất phong phú, tốt tươi. Xem khắp nước ta, chỗ ấy là nơi hơn cả, thật là chỗ hội họp bốn phương, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương”.

Trong cái “tứ giác nước” (như cách nói của cố GS. Trần Quốc Vượng) với phía Bắc và phái Đông là sông Nhị Hà, còn sông Tô và Kim Ngưu bao bọc phía Tây và phía Nam. Thành lũy quanh Thăng Long cũng là đê ngăn lũ. Các sông hồ không chỉ bồi phủ tạo nên các bờ bãi tốt tươi, mà còn là hệ thống giao thông, hệ thống trữ nước, cấp nước và tiêu nước cho Hà Nội. Ở các thời tiền thực dân, tức tiền công nghiệp hóa, thuyền bè là phương tiện đi lại chính trên sông, đặc biệt là sông Cái:

“Lênh đênh ba mũi thuyền kề
Thuyền ra Kẻ Chợ, thuyền về sông Dâu”

Hay:

“Ai về Hà Nội, ngược nước Nhị Hà
Buồm giăng ba ngọn vui đà vui thay”

Con sông Tô Lịch thời đó trong xanh, không bị thu hẹp dòng và ô nhiễm như bây giờ, còn là nơi vua quan, thị dân du thuyền xuôi ngược:

“Sông Tô nước chảy trong ngần
Cơn thuyền buồm trắng chạy gần chạy xa”

Cấu trúc Thăng Long thời trung cổ là điển hình cho kiểu thành thị phong kiến, trong đó thành là nơi định đô với thành quách cung điện, nơi ở của vua quan; còn ngoài thành là “thị” với bến sông chợ búa, nơi sinh sống và buôn bán của thị dân. Ngày nay dấu tích các chợ còn lại khá rõ ở các cửa thành, như chợ Cửa Nam, chợ Cửa Bắc (nay là chợ Châu Long), chợ Cửa Tây (nay là chợ Ngọc Hà), chợ Cửa Đông (gần chợ Đồng Xuân). Ngày nay với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ, Hà Nội không còn bó gọn trong cái “tứ giác nước” đó nữa mà đã vượt ra ngoài, không còn là thành phố “một bên sông”, thành phố “trong sông” nữa mà đang mở rộng sang cả hai bờ, ôm gọn cả khúc sông Hồng vào lòng.



Sông Hồng

Sông Hồng đã tạo nên vị thế và diện mạo của Hà Nội, một vị thế và diện mạo có một không hai ở nước ta. Tuy nhiên Hà Nội, con người Hà Nội đã khoác lên các sông hồ nơi đây một diện mạo mới, diện mạo văn hóa. Có thể nói, mỗi khúc sông nhánh hồ của thành phố đều thấm đậm các huyền tích, truyền thuyết, dấu ấn lịch sử, khiến nó trở nên lung linh, huyền ảo, ẩn chứa hồn núi sông:

“Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây
Đây lắng hồn núi sông ngàn năm”

(Nguyễn Đình Thi)

Sông Hồng, khúc chảy qua Hà Nội, đã từng chứng kiến các sự kiện hào hùng của dân tộc chống giặc ngoại xâm với các di tích Tây Kết thời Lê Hoàn chống Tống, Chương Dương, Hàm Tử, Vạn Kiếp…trong chiến thắng Nguyên Mông, Xuân 1285:

“Đoạt giáo Chương Dương độ, cầm hồ Hàm Tử quan”

(Trần Quang Khải)

Đây cũng là đoạn sông với sự ẩn hiện các thủy thần. Nằm trong hệ thống trấn thủy thần núi Ba Vì- Sơn Tinh, vị thần bảo trợ cho kinh thành Thăng Long. Huyền thoại Lý Ông Trọng chém mãng xà cứu mẹ ở khúc sông đình Chèm, gắn với lễ hội đình Chèm hàng năm vào tháng Giêng. Với hệ thống tín ngưỡng “trấn thủy” này còn có cả các huyền thoại diệt thuỷ quái trên sông Tô Lịch ở góc thành phía Tây Thập Tam Trại, kéo dài sang tận vùng Lệ Mật (Nay thuộc phường Việt Hưng, quận Long Biên) với truyền thuyết chàng trai họ Hoàng chém rắn cứu công chúa nhà Lý. Cũng nằm trong hệ thống Thập Tam Trại xưa, làng Thủ Lệ ngay sát kinh thành xưa, lại thờ thần Linh Lang phun nước làm mưa, được dân làng Thủ Lệ tôn thờ, là một trong Tứ Trấn của kinh thành Thăng Long.

Đẹp hơn cả vẫn là huyền thoại Chử Đồng Tử- Tiên Dung, một mối tình mang đầy chất tự nhiên, làm thơ mộng cả một dải sông Hồng phía Nam Hà Nội, để lại ven sông không chỉ là những đình đền thờ cúng các vị thần mà còn là các nghi lễ, lễ hội, phong tục.

Phong phú không kém là hệ thống các huyền thoại, truyền thuyết và di tích ven các hồ trong lòng Hà Nội. Ai cũng biết hồ Hoàn Kiếm là biểu tượng thiêng liêng của người Hà Nội, nơi có Tháp Rùa lung linh soi bóng ngàn đời đáy nước, ghi dấu huyền thoại Lê Thái Tổ, người sáng nghiệp nhà Lê trả gươm thần cho Rùa vàng, đền Ngọc Sơn, tượng Vua Lê, nay thêm tượng Lý Công Uẩn, người sáng lậpThăng Long- Hà Nội…



Hồ Tây

Hồ Tây là một hồ lớn, xưa ở phía Tây kinh thành, dấu tích của sông Cái đổi dòng, nay con hồ này đã nằm gọn trong lòng Hà Nội. Cả một hệ thống huyền thoại, di tích, lễ hội đày đặc quanh Hồ Tây (còn gọi là hồ Dâm Đàm), mà tác phẩm “Tây Hồ chí” được viết từ cuối thế kỷ XIX đã mô tả chi tiết. Các huyền thoại về Trâu Vàng (Kim Ngưu) về Hồ Tinh, huyền thoại về chó mẹ trên lưng mang chữ Vương, từ bên kia sông Cái bơi về lót ổ đẻ Cẩu Nhi (chó con) ở Trúc Bạch, một nhánh Tây Hồ, đánh dấu điềm lành khi Lý Công Uẩn lên ngôi và dời đô từ Hoa Lư về Đại La, khai sinh thành Thăng Long nghìn năm. Huyền thoại về Bà Chúa Liễu Hạnh gặp gỡ và đàm thoại văn thơ với nhà thơ Phùng Khắc Khoan, do vậy đã để lại cho Hà Nội đời sau một phủ Tây Hồ linh thiêng, huyền ảo. Gắn với huyền thoại là các di tích đình, đền, chùa và lễ hội quanh Hồ Tây như đền Quán Thánh, di tích của Đạo giáo, chùa Trấn Quốc, ngôi chùa thuộc loại cổ nhất, nơi vua chúa xưa đi lễ chùa, chùa Kim Liên, Quảng Bá, đình Yên Phụ, đền Kim Ngưu, phủ Tây Hồ.

Có một cái hồ vốn xưa kia nằm ở ngoại thành Hà Nội, nhưng nay ven hồ đã mọc lên một khu chung cư, đó là hồ Linh Đàm (Đầm Mực). Truyền rằng đây là nơi trú ngụ của Thần Lâm Đàm (thần Rồng), đã từng hóa thân thành cậu học trò theo học thầy Chu Văn An. Gặp năm trời hạn hán, vì thương xót dân, Thần hút mực trong các nghiên bút, phun lên trời cầu mưa, giúp người trừ hạn hán, làm cả mặt hồ đen ngòm như mực, do vậy mà bị Thiên Đình tức giận trị tội chết. Người dân nơi đây nhớ ơn, lập đền thờ Thần.

Làm sao mà kể hết các huyền thoại, di tích, lễ hội, phong tục gắn với sông hồ của Hà Nội, tạo nên một Thăng Long- Hà Nội thấm đậm tinh thần lịch sử và tâm linh. Ở đây thiên nhiên và văn hóa, con người và môi trường đã hòa với nhau làm một, thể hiện sự hòa hợp giữa thiên- địa- nhân, một bản sắc văn hóa của Việt Nam nói riêng và của phương Đông nói chung.

Thăng Long Hà Nội nghìn năm đã hình thành nên những giá trị và bản sắc, nay đứng trước xu hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang bị vỡ ra để tái cấu trúc thành Hà Nội thời đại Hồ Chí Minh, có hàng loạt vấn đề đang đặt ra giữa kiến trúc đô thị và môi trường. Hà Nội đã mở rộng và hiện đại hơn, nhưng các sông hồ thì có bị bồi lấp, thu hẹp và ô nhiễm?, Hà Nội có còn giữa được sự hài hòa giữa kiến trúc hiện đại với sự hiền hòa, tươi mát của các dòng sông, mặt hồ? Chắc chắn trong tương lai Hà Nội sẽ có cơ sở vật chất khang trang, có “nhà cao cửa rộng” nhưng có còn giữ được cái hồn của những huyền thoại, truyền thuyết lịch sử lung linh?...Nói một cách tổng quan hơn Hà Nội có còn là đô thị của sông hồ.

(Theo: Hà Nội tầm nhìn triển vọng và những cơ hội đầu tư mới, NXB Hà Nội, 2009)

Hành trình của ra đi và trở về nguồn cội

Hành trình của ra đi và trở về nguồn cội



Đối với tôi, quê hương hơn cả sự trở về. Bởi tôi từ nơi đó ra đi, vì cuộc mưu sinh, và vì một mảnh đời riêng lận đận, để lại trọn vẹn những ân tình của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thầy và những tháng ngày thơ ấu…

Tôi đã rất mong đợi cuộc triển lãm đầu tiên sau gần 20 năm xa quê, dự định ban đầu là ở Nhà triển lãm Hội Mỹ thuật 16 Ngô Quyền, rồi vì công việc cuốn đi, rồi vì cơ duyên, lại bắt đầu ở Bảo tàng Dân tộc học, từ 3/10 đến hết tháng 12/2008.

Hơn 40 bức tranh, lụa và khắc gỗ, những đề tài yêu thích của tôi qua bao năm tháng, chọn lọc và gửi gắm trong đó. Có những bức tranh của một thời tuổi trẻ, đã theo tôi từ Việt Nam sang lặn lội trên những nẻo đường mưu sinh khó nhọc trên đất Đức, đã trải qua bao cuộc triển lãm giới thiệu về hội hoạ Việt Nam với bầu bạn nước ngoài, đã bao người ngỏ ý muốn mua, nhưng tôi vẫn giữ lại cho trái tim mình. Và những bức tranh ấy, đã hiện diện một lần nữa trên đất quê hương, một góc nhỏ ấm cúng trong Bảo tàng Dân tộc học.

Dường như luôn có một nỗi nhớ không nguôi trong tâm hồn những người nghệ sĩ xa xứ: Ở nơi xa kia là bóng dáng quê nhà.

Có phải ông nhà văn xa xứ Trần Kiêm Đoàn đã viết thế này: Đất nước, quê hương không phải chỉ là hoàng thành, là lăng tẩm, là thái miếu, là núi rừng hay danh lam thắng cảnh. Đất nước trước hết là mẹ già ngồi chờ con trên bộ phản kê bên khung cửa của căn nhà lá đơn sơ. Tổ quốc là người cha già lưng còng tóc bạc ngồi trông con mòn mỏi từng giờ…

Đối với tôi, quê hương hơn cả sự trở về. Bởi tôi từ nơi đó ra đi, vì cuộc mưu sinh, và vì một mảnh đời riêng lận đận, để lại trọn vẹn những ân tình của gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, những người thầy và những tháng ngày thơ ấu… Những ân tình vẫn trải rộng dưới mỗi nét vẽ, dưới mỗi gam màu của tôi trên lụa, những ân tình dù bao năm tháng vẫn tươi sáng, trẻ trung và mạnh mẽ như lời thầy dạy môn lụa - hoạ sĩ Nguyễn Phan Chánh đã khuyến khích tôi từ ngày đầu: “Lụa mỏng manh, nhưng hãy chọn sắc màu tràn đầy sức sống, như người Việt mình luôn luôn đầy hy vọng và lạc quan dù trong hoàn cảnh nào.”

Nhưng xa quê, cũng là mang theo khát vọng được giới thiệu với bạn bè quốc tế về một ViệtNam khác ngoài chiến-tranh, một Việt Nam đã sống động từ mấy ngàn năm, đã thành nỗi nhớ thao thức của bất cứ người con đi xa nào. Tôi vẽ những người dân quê hương tôi, những bản làng Việt Nam, những con người hiền hậu chất phác nơi thung lũng yên bình, nơi nhịp thời gian vẫn đi thật chậm rãi, cho lòng lắng lại trước cái đẹp, trước tha nhân. Những bức tranh về cuộc sống, sinh hoạt và cảnh đẹp của miền núi phía Bắc trải dài theo năm tháng, theo những nỗi nhớ và những chuyến trở về của tôi.

Tôi theo học hội hoạ từ năm 12 tuổi, cho đến hết đại học Mỹ thuật Công nghiệp, cũng như những bạn bè cùng trang lứa, tôi đã học được cách kết hợp phong cách vẽ của phương Tây với những hình ảnh truyền thống của đất mẹ. Hội hoạ, đấy là thế giới để thể hiện những rung động của trái tim và môi trường xã hội. Những năm tháng trên đất Đức, tôi có nhiều cuộc triển lãm đáng nhớ với các hoạ sĩ quốc tế như Trung Quốc, Nga, Phần Lan, Đức... và những triển lãm cá nhân tại Đức và Áo. Qua mỗi lần đó, tôi lại nhận được sự ủng hộ nhiệt tình của những hoạ sĩ người Đức, người nước ngoài. Họ giúp tôi tổ chức những cuộc triển lãm tranh khác, vì lòng yêu cái đẹp, vì tình cảm chân thành với quê hương Việt Nam của tôi. Có những cuộc triển lãm hết sức đặc biệt, bởi vì muốn được làm ở đó đều phải đăng ký trước cả năm trời, nhưng chỉ một lần gặp mặt, một lần xem tranh, chỉ nửa tiếng đồng hồ, ban quản lý những nơi đó đều lập tức đưa những bức tranh lụa, những bức khắc gỗ của tôi vào chương trình sớm nhất. Người Đức biết đến Việt Nam với cái nhìn tươi mới hơn. Dường như mối rung cảm cố hương ấy đã có được những con mắt xanh chia sẻ, và đó cũng là niềm hạnh phúc lớn của một người hoạ sĩ xa xứ.

Chồng tôi là một kỹ sư người Áo rất yêu Việt Nam. Dù không giàu có gì, nhưng anh ấy cùng với tôi đều rất muốn làm một cái gì đó cho Việt Nam. Công việc của chúng tôi mới chỉ là bước đầu dặm hành trình của những nghệ sĩ nghèo với trẻ em bị ảnh hưởng bởi chất độc màu da cam, tôi mong có nhiều tấm lòng ủng hộ cho hành trình đó.

Những ngày tháng này, tôi dành hết thời gian cho bức tranh chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Một lần triển lãm tranh, các anh chị trong Uỷ ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài đã hỏi tôi, và giúp tôi nhớ ra món quà có ý nghĩa ấy với quê hương mình, với con người mà tôi cũng như hàng triệu người dân Việt Nam và cả những người bạn Đức của tôi vẫn rất ngưỡng vọng.

Tôi đang trồng trong vườn nhà mình những mầm hoa tulip. Đợi đến mùa Xuân hoa sẽ nảy mầm vươn cánh. Mùa Xuân, khi những bức tranh của tôi sẽ tiếp tục hiện diện trên mảnh đất quê nhà, như một hành trình của ra đi – và trở về nguồn cội...

hoạ sĩ Phạm Thị Đoàn Thanh)

Thứ Hai, 22 tháng 3, 2010

Tình trong dòng thơ tiền chiến

Tình trong dòng thơ tiền chiến

Làm thi sĩ nghĩa là ru với gió,

Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây,

Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây,

Hay chia sẻ bởi trăm tình yêu mến.

(Cảm Xúc- Xuân Diệu)

http://i271.photobucket.com/albums/jj137/RosemaryLouis/yemtham/AT_04.jpg

Tiền chiến là thời kỳ đánh dấu bằng những sự thay đổi lớn trong văn học Việt Nam. Từ bao đời, thi caViệt Nam chịu ảnh hưởng của nền văn học Nho giáo và sự ràng buộc khắt khe của chế độ phong kiến. Nói đến thơ Việt, người ta chỉ nghĩ ngay đến thể thơ Đường Luật thất ngôn bát cú mà từ giới thượng lưu quan quyền, vua chúa đến các bậc nho sĩ đều chuyên dùng. Học sinh đến trường phải thuộc Tứ Thư Ngũ Kinh, Tam Tự Kinh, được giáo dục Thi, Thư, Lễ, Nhạc và chịu gò bó tư tưởng, đạo đức, tinh thần, cảm xúc của mình trong một khuôn khổ nhất định theo triết lý Khổng- Mạnh: Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức…

Đầu thế kỷ 20, sự có mặt của người Pháp ở Việt Nam cùng với chủ nghĩa tư bản và văn hóa phương Tây đã gây ra những xáo trộn lớn trong xã hội. Giới thượng lưu Việt Nam hình thành một giai cấp mới, gọi là tư sản với lối sinh hoạt thành thị mới theo văn minh Phương Tây. Giới trí thức trẻ được đi học trường Tây, được học chữ Pháp, được tiếp thu nền văn hóa lãng mạn Pháp và nhanh chóng nhận thấy sự gò bó khắt khe của vần luật, niêm luật và đối ngẫu trong thơ Đường Luật đã hạn chế tiếng nói tự nhiên của con tim:Cái nghề thơ Đường luật khó đến như thế, khó cho đến đỗi kẻ muốn làm thơ, mỗi khi có nhiều tư tưởng mới lạ muốn phát ra lời, song vì khó tìm chữ đối, khó chọn vần gieo, nên ý tưởng dầu hay cũng đành bỏ bớt. Cái phạm vi của thơ Đường luật thật là hẹp hòi, cái qui củ của thơ Đường luật thật là tẩn mẩn. Ta nếu còn ưa chuộng mà theo lối thơ này mãi, thì nghề thơ văn của ta chắc không có bao giờ mong phát đạt được vậy… »(Trịnh Đình Rư- Phụ Nữ Tân Văn 1929). Thanh niên thời bấy giờ, không còn như giới hũ nho, chỉ biết hễ mở miệng là xổ Nho hay đặt bút xuống là kê Nho, mà bắt đầu yêu chuộng những vần điệu nhẹ nhàng phát xuất từ cảm xúc sâu xa của tâm hồn trước cái đẹp của vạn vật, cuộc đời, sự sống, con người và tình yêu. Và thơ Mới lúc ấy đã ra đời, chấm dứt một thuở vàng son thịnh trị của thơ Đường.

Ta gặp Nàng trên một vì sao nhỏ

Ta hôn Nàng trong bóng núi mây cao

Ta ôm Nàng trong những nguồn trăng đổ

Ta ghì Nàng trong những suối trăng sao

[qycht076b.jpg]

Từ khi tôi mới bước vào lứa tuổi ô mai, biết mơ mộng, biết làm thơ thì dòng thơ tiền chiến đã luôn lôi cuốn và thu hút tôi cho đến bây giờ. Với tôi, thơ tiền chiến là thơ của một thời thanh bình, lãng mạn, thơ của tình yêu, của mộng mơ, mà từng lời thơ đều gọt giũa trau chuốt đẹp đẽ. Có lẽ vì ảnh hưởng bởi dòng thơ lãng mạn của Rimbaud, Beaudelaire, Verlaine, cho nên các nhà thơ tiêu biểu cho thời kỳ này như Xuân Diệu, Huy Cận, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Hồ Dzếnh …đã làm nên cuộc cách mạng lớn trong thi ca Việt Nam.

Tay anh em hãy tựa đầu

Cho anh nghe nặng trái sầu rụng rơi

(Ngậm ngùi- Huy Cận)

http://i155.photobucket.com/albums/s301/nguyenvolam/NgamNgui1p.jpg

http://www.alanbauer.com/photogallery/Water/Horizontal%20moonrise%20over%20Case%20Inlet.jpg

Tình yêu muôn đời là nguồn cảm hứng không bến bờ của mỗi người trong chúng ta. Tôi còn nhớ, ngày ấy, cũng như bao nữ sinh đồng trang lứa, tôi thường tìm tòi sao chép vào những cuốn vở có ép hoa ép bướm, nắn nót bằng mực tím những dòng thơ tình tiền chiến.

Em đi rồi then khóa cả chiêm bao

Gầy vóc mộng gói tròn manh áo nhớ

(Đinh Hùng)

Tôi thấy, trong phong trào thơ Mới , tư tưởng tự do lãng mạn thiệt phóng khoáng và huyền diệu vô cùng. Thế giới nội tâm được diễn đạt qua những vần điệu chuyên chở đầy cảm xúc, nói lên đời sống tình cảm, yêu và hận, cô đơn và u sầu, xa cách và nổi loạn…

Để chăn gối im nằm chỗ cũ

Hãy lịm người trong thú đau thương

Giờ đây ta đốt nén hương

Trên tay ta buộc giải tang cho tình

(Thú đau thương- Lưu Trọng Lư)

http://www.benthanhtourist.com/UserFiles/Tour/1_muathu1.jpg

Chữ tình trong cõi thơ đã không còn biên giới. Có tình yêu nồng nàn mãnh liệt của tuổi đôi mươi, có tình mộc mạc thơ ngây của tuổi học trò, có tình não nề thê thiết của ly biệt, có thứ tình đằm thắm dịu dàng của vạn vật thiên nhiên…

Hôm nay có một nửa trăng thôi

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi

Ta nhớ mình xa thương đứt ruột

Gió làm nên tội buổi chia phôi

(Hàn Mạc Tử)

http://a34.idata.over-blog.com/496x800/0/42/84/39/Album3/RuNuaVangTrang.jpg

Trong số các nhà thơ vang bóng thời bấy giờ, tôi yêu thích nhất là thơ Xuân Diệu rồi đến Nguyễn Bính và Hoàng Cầm. Người ta ví Xuân Diệu như “vua” của thơ tình hiện đại, quả không sai. Trong dòng thơ của ông, tôi có thể cảm nhận được ngọn lửa rạo rực, thiết tha, nồng cháy, niềm say mê yêu đời, yêu cuộc sống, khao khát yêu thương và giao cảm với đời. Tình yêu được ông dùng bút phát họa nên một bức tranh muôn màu, có sắc, có hương và âm quyện vào nhau một cách hài hòa mỹ miều. Bài thơ mà tôi thấy rung động nhất là bài “ Nguyệt Cầm”:

Trăng nhập vào đây cung nguyệt lạnh

Trăng thương, trăng nhớ, hỡi trăng ngần

Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm

Mỗi giọt rơi tàn như lệ ngân

http://sonata.vnweblogs.com/gallery/6996/previews-med/vt12.jpg

Đối với tôi bài thơ này diễn tả mức độ cao nhất của cảm xúc con người. Xuân Diệu trong một đêm thu trăng sáng lạnh lùng, đã nghe vang vọng tiếng đàn sầu não. Cái hay sâu sắc trong bài thơ này, là nhà thơ đã nhìn thấy sự tương giao hài hòa giữa thiên nhiên, màu sắc, âm thanh và cảm xúc… Trăng và đàn hình như bỗng có linh hồn quyện chặt vào nhau. Trăng phổ nhạc cho đàn, để tiếng đàn ai oán xoáy vào trong cõi lòng lạnh giá làm bừng nở từng đóa hoa thơ

Thu lạnh càng thêm nguyệt tỏ ngời

Đàn ghê như nước, lạnh, trời ơi

Long lanh tiếng sỏi vang vang hận:

Trăng nhớ Tầm Dương, nhạc nhớ người...

Bốn bề ánh nhạc, biển pha lê

Chiếc đảo hồn tôi rợn bốn bề

Sương bạc làm thinh, khuya nín thở

Nghe sầu âm nhạc đến sao Khuê.

Trong thơ Xuân Diệu, chữ tình khoác một chiếc áo muôn màu muôn vẻ. Vườn hoa thơ của Xuân Diệu trồng một cây tình yêu luôn mãi xinh tươi và ngát hương. Cây tình yêu của ông được vun trồng, chăm bón bằng cái tình nảy sinh từ yêu thiên nhiên vạn vật,

Chiều mộng hoà thơ trên nhánh duyên.

Cây me ríu rít cặp chim chuyền

Đổ trời xanh ngọc qua muôn lá,

Thu đến nơi nơi động tiếng huyền.

(Thơ Duyên- Xuân Diệu)

http://files.myopera.com/pizza_hut/blog/285891303_6a6c0df7c7.jpg

từ tâm hồn thiết tha yêu cuộc sống

Ta muốn ôm

Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn

Ta muốn riết mây đưa và gió lượn

Ta muốn say cánh bướm của tình yêu

Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

Và non nước và cây và cỏ rạng

Cho chếch choáng mùi thơm cho đã đấy ánh sáng

Cho no nê thanh sắc của thời tươi

Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!

(Vội vàng- Xuân Diệu


59%
2009-07-1921-48-46.jpg image by huynhthanhduy262

từ cuộc đời thật, giữa tình yêu đôi lứa cuồng nhiệt khát khao,

Hãy sát đôi đầu! Hãy kề đôi ngực!

Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài!

Những cánh tay! Hãy quấn riết đôi vai!

Hãy dâng cả tình yêu lên sóng mắt!

(Xa Cách - Xuân Diệu)

giữa tình yêu vợ chồng thương yêu trìu mến

Nằm đêm anh cứ thương em

Rơi nghiêng nước mắt một đêm gối nằm

Thế này cho hết trăm năm

Đến muôn năm vẫn âm thầm thương em.

(Nằm đêm anh cứ thương em- Xuân Diệu)

từ những nỗi đau âm ỉ

Rễ ăn huyết lệ từ sâu

Màu hoa mới được bền lâu thế này.

Lệ thường yêu dấu xưa nay.

Gai đâm rách toạc tim này - chớ than!

(Trăm ba mươi đóa- Xuân Diệu)

yêu người đến tương tư, vì khi chỉ có yêu thực sự con người mới cảm nhận hết thế nào là nỗi nhớ tương tư khắc khoải đến một người …

Anh nhớ tiếng. Anh nhớ hình. Anh nhớ ảnh.

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

(Tương tư chiều- Xuân Diệu)

http://i39.photobucket.com/albums/e158/tuyettien/5bf1c44e.jpg

Nhà thơ Nguyễn Bính cũng tương tư khi yêu. Nhưng nỗi tương tư của Nguyễn Bính thì dịu dàng như hương đồng gió nội, mộc mạc đơn sơ như mối tình chân quê, ngọt ngào như câu ca dao ru hời của Mẹ…

Ví chăng nhớ có như tơ nhỉ

Em thử quay xem được mấy vòng

Ví chăng nhớ có như vừng nhỉ

Em thử lào xem được mấy thưng!

( Nhớ- Nguyễn Bính)

http://files.myopera.com/MeoU68/picture/BaiVo/TuongTu_NguyenBinh.gif

Tôi yêu thích thơ Nguyễn Bính vì thơ ông mang nét đẹp duyên dáng, đáng yêu của thôn làng Việt Nam. Thơ Nguyễn Bính gắn bó và thu hút những tinh hoa vàng ngọc của ca dao…Những dòng lục bát của ông như chiếc thuyền bềng bồng trên sóng nước, chở nặng chữ tình, và thuần cảm xúc. Thơ ông biểu hiện cảnh quê, thắm được tình quê, hồn quê nước Việt với một sắc thái lãng mạn. Qua thơ của Nguyễn Bính, tôi tìm lại những hình ảnh bình dị quen thuộc của làng quê Việt Nam với những hàng cau, giàn trầu, rặng mùng tơi, thôn Đoài, thôn Đông, mái nhà tranh, giàn trúc thưa…

Nhà em có một giàn giầu,

Nhà anh có một hàng cau liên phòng.

Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,

Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?

(Tương tư- Nguyễn Bính)

những mối tình chân quê nam nữ hồn nhiên, chất phác, yêu đời;

Van em em hãy giữ nguyên quê mùa

Như hôm em đi lễ chùa

Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh!


Hoa chanh nở giữa vườn chanh

Thầy u mình với chúng mình chân quê

Hôm qua em đi tỉnh về

Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều

(Chân Quê- Nguyễn Bính)

những chuyện tình buồn trắc trở, chua xót, phải "lỡ bước sang ngang".

Ai đem rắc bướm lên hoa

Rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng?

Ai đem nhuộm lá cho vàng?

Nhuộm đời cho bạc, cho nàng phụ ta?

(Rắc bướm lên hoa- Nguyễn Bính)

http://www.trangnhahoaihuong.com/phpWebSite/images/pagemaster/NguoiHangXom.jpg

Tôi còn nhớ khi tôi vừa vào độ tuổi trăng rằm, bài thơ đầu tiên của Nguyễn Bính mà tôi biết đến là bài thơ “Bảy Chữ”…Bài thơ này tôi đã nắn nót chép vào trang lưu bút thời trung học. Nét độc đáo ở đây gói trọn trong bảy chữ “Vạn lý tương tư, vũ trụ tình” … Còn nỗi nhớ thương nào dài hơn ngoài vạn dặm và còn cái tình nào bao la bát ngát sâu rộng hơn vũ trụ …Thật tuyệt! Có lẽ vì thế mà các nam sinh trong trường tôi trong những năm cuối trung học thường hay viết tặng người yêu, bảy chữ này như một hiến chương tình yêu, một lời tỏ tình đậm đà nhất…để khi người yêu

Đọc xong bảy chữ thì thương lắm

“Vạn lý tương tư, vũ trụ tình”

(Bảy Chữ- Nguyễn Bính)

Thơ của nhà thơ Hoàng Cầm đến với tôi muộn màng nhưng những vần thơ của ông đã để lại trong tôi nhiều ấn tượng sâu sắc…Có lẽ vì qua thơ ông tôi tìm lại được hình dáng mỹ miều lãng mạn của quê Nột trong tôi. Thơ ông mượt mà, quyến rũ, mang nhiều thi tính, giàu nhạc điệu, rất tình tứ …có lẽ vì ông biết kết đọng đến tinh túy nền văn hóa quan họ của người dân Kinh Bắc, ngay cả nghệ thuật ông dùng bút để phát họa cái đẹp lãng mạn đa tình của người con gái Bắc Ninh cũng thật tài …

Chân em dài đi không biết mỏi

Má hồng em lại nổi

đồng mùa nước lụt mênh mông

Lưng thon thon cắm sào em đợi

Đào giếng sâu rồi

đừng lấp vội đầu xanh

Lúng liếng ơi chớ động mành thưa

Chìa vôi quệt gió hững hờ

Bờ ao sáo tắm bao giờ hở em.

( Theo đuổi- Hoàng Cầm)

Trong thơ ông đậm nỗi khát khao yêu đời … Ngọn lửa tình trong ông lúc nào cũng rực cháy nóng bỏng nun đúc thành những dòng thơ da diết. Nhà thơ Hoầng Cầm biết yêu khi mới lên tám, suốt cả mấy mươi năm quá trình sáng tác của ông, có nhiều bóng hồng đã là nguồn cảm xúc thiết tha của ông…Tôi yêu thích bài thơ “ Lá Diêu Bông” của ông, vì bài thơ này nói lên mối tình si đầu tiên của ông dành cho một người con gái lớn hơn ông 7 tuổi. Một mối tình trong sáng, nhẹ nhàng, cho dù kết cuộc mang một nỗi buồn man mác thương đau…

Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng

Chị thẩn thơ đi tìm

Đồng chiều

Cuống rạ

Chị bảo

Đứa nào tìm được Lá Diêu bông

Từ nay ta gọi là chồng …

…Từ thuở ấy

Em cầm chiếc Lá

đi đầu non cuối bể

Gió quê vi vút gọi

Diêu bông hời...

...ới Diêu bông...!

http://www16.24h.com.vn/upload/news/2009-09-08/1252399075-la-dieu-bong-1.jpg

Trong thơ Hoàng Cầm có nhiều khi tôi cảm nhận nét si mê hưng phấn trong ái tình của ông. Ông lồng nhục cảm trong những vần thơ đầy hương sắc và thi vị, đẹp trau chuốt đến quyến rũ lạ thường…

Ngũ sắc chen nhau cầu lễ hội

Nuột nà cởi bỏ áo hoa khôi

Em không buộc thắt lưng thon nữa

Thả búp tròn căng nuột ấy... ơi !...

…Hương ngát em lồng kín cõi anh

Yếm đào trút lại phía vô linh

Đung đưa gác lửng nghênh xuân ấy

Đôi núm hồng em nở hết mình

(Hội yếm bay- Hoàng Cầm)

AYemBay.jpg image by khieulongsd

Dòng giống Tiên Rồng, bốn ngàn năm văn hiến là một giống nòi tình cho nên mỗi người dân Việt thường yêu chuộng những dòng thơ nghiêng về cảm xúc và nặng chữ tình. Cũng có lẽ vì thế mà dòng tình tiền chiến đã nở những đóa hoa thơ ngát hương rực rỡ muôn màu muôn sắc mà qua bao nhiêu thập niên hương sắc vẫn không phai tàn trong văn học nghệ thuật Việt Nam.http://files.myopera.com/trieuchau48/blog/l%E1%BB%ADa%20t%C3%ACnh.jpg

Em ơi lửa tắt bình khô rượu

Đời vắng em rồi say với ai

(Vũ Hoàng Chương)

cold.gif image by hoaian_bucket
MTP SUU TAM