Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
|
| |
|
| |
| Tên thật | Phạm Duy Cẩn |
|
| |
| Ngày sinh | 5 tháng 10 năm 1921
tại Hà Nội |
| Nghề nghiệp | Nhạc sĩ |
| Thể loại | Nhạc tiền chiến, tình khúc 1954-1975 |
| Tác phẩm
nổi tiếng | "Tình ca", "Tình hoài hương", "Con đường cái quan", "Mẹ Việt Nam" |
| Ca sĩ trình bày thành công | Thái Thanh |
Phạm Duy (sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921) tên thật Phạm Duy Cẩn là một nhạc sĩ, ca sĩ, nhà nghiên cứu nhạc nổi tiếng của Việt Nam. Ông được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của nền Tân nhạc với số lượng sáng tác đồ sộ và đa dạng về thể loại, trong đó có những bài đã trở nên rất quen thuộc với người Việt. Ngoài sáng tác, Phạm Duy còn có nhiều công trình khảo cứu về âm nhạc Việt Nam có giá trị. Ông cũng từng giữ chức giáo sư nhạc ngữ tại trường Quốc gia Âm nhạc Sài Gòn.
Khởi sự đời nhạc trong gánh hát Đức Huy với vai trò ca sĩ hát lưu động. Từng tham gia Kháng chiến chống Pháp một thời gian trước khi vào miền Nam để tiếp tục tự do hoạt động âm nhạc. Phạm Duy là một tên tuổi lớn và đầy ảnh hưởng tại miền Nam Việt Nam với những hoạt động tích cực giành cho cả âm nhạc lẫn chính trị, cho đến sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, khi ông vượt biên sang Hoa Kỳ. Thời kỳ ở miền Nam và một thời gian dài sau 1975, ông có quan điểm chống Cộng mạnh mẽ thể hiện qua nhiều sáng tác và bình luận, điều đó khiến ông bị phe Cộng Sản phê phán gắt gao. Trong suốt 30 năm từ 1975 đến 2005, Phạm Duy bị nhà nước xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam cấm đoán về nhân thân, những ca khúc của ông bị liệt vào loại nhạc quốc cấm. Tuy nhiên tại cộng đồng người Việt hải ngoại, nhạc của ông vẫn được phổ biến rộng rãi.
Năm 2005, ông về Việt Nam định cư và một số ca khúc của ông mới bắt đầu được cho phép phổ biến. Tính cho đến nay, có hơn 50 ca khúc trong số hàng nghìn sáng tác của Phạm Duy được cấp phép.
Mục lục[ẩn] |
[sửa] Tiểu sử
Nhạc sĩ, tên thật là Phạm Duy Cẩn, xuất thân từ một gia đình văn nghiệp. Cha là Phạm Duy Tốn thường được xem như nhà văn xã hội đầu tiên của nền Văn học Mới hồi đầu thế kỷ 20. Anh là Phạm Duy Khiêm, giáo sư thạc sĩ, cựu Đại sứ Việt Nam Cộng hòa tại Pháp, văn sĩ Pháp văn, tác giả những cuốn Légendes des terres sereines, Nam et Sylvie, De Hanoi à Lacourtine...
Sinh ngày 5 tháng 10 năm 1921 (5 tháng 9 năm Tân Dậu) tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Phạm Duy học vỡ lòng tại trường Hàng Thùng, học tiểu học tại trường Hàng Vôi, học rất dốt và thường bị phạt. Đến khi 13 tuổi (1934) vào được lớp nhất, ông học giỏi lên dần, thành một trong những học sinh ưu tú của lớp, nhất là môn đọc thơ tiếng Pháp.
Năm 1936, vào học ở trường Thăng Long, một trọng điểm trong thời kỳ kháng chiến. Thầy dạy ông có Võ Nguyên Giáp, còn trong đám bạn cùng lớp có nhà thơ Quang Dũng.
Năm 1940, nghe lời bè bạn, ông thi vào trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông dương, học thầy Tô Ngọc Vân, chung lớp với Bùi Xuân Phái, Võ Lăng... nhưng ông không có năng khiếu nhiều và không ham vẽ cho lắm. Thời kỳ này ông ca hát nhiều hơn là vẽ tranh.
Năm 1942 ông có sáng tác đầu tay "Cô hái mơ".
Năm 1944, ông thành ca sĩ hát tân nhạc trong gánh hát cải lương Đức Huy – Charlot Miều. Gánh hát này đưa ông đi rất nhiều miền trên đất nước, từ Bắc chí Nam, khiến ông mở mang tầm mắt, ngoài ra tự nhiên cũng trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc phổ biến tân nhạc đến các vùng. Thời kỳ hát rong, Phạm Duy được gặp gỡ nhiều tên tuổi lớn như thi sĩ Lưu Trọng Lư, nhạc sĩ Lê Thương, Lê Xuân Ái, Văn Đông... và nhất là nhạc sĩ Văn Cao, người sau này trở thành bạn thân thiết.
Sau đó ông khởi sự con đường âm nhạc của mình với việc trở thành ca sĩ trong gánh hát Đức Huy, đi diễn lưu động từ Bắc qua Trung vào Nam trong những năm 1943-1945. Ông là người đầu tiên hát nhạc cải cách trên đài Radio Indochine ở Sài Gòn vào năm 1944, mỗi tuần trình bày 2 lần.
Năm 1945, xảy ra nạn đói, Phạm Duy rời nhà cũ đi lang thang nhiều nơi, sau đó ông theo kháng chiến. Trong thời Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, Phạm Duy trở thành cán bộ văn nghệ của Việt Minh và là một trong những nhạc sĩ thành công nhất lúc đó. Thời kỳ này, bên cạnh tài năng được khen ngợi, thì xu hướng lãng mạn của Phạm Duy bị cho là tiêu cực, nhiều bài hát của ông bắt đầu bị xét duyệt, cấm đoán. Sau do không chịu sự quản thúc ngặt nghèo, ông đã rời bỏ Việt Minh về thành. Từ đó tác phẩm của ông bị cấm phổ biến trong vùng kiểm soát của Việt Minh, cũng như ở miền Bắc sau 1954 và trên cả nước sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.
Năm 1949 ông lập gia đình với ca sĩ Thái Hằng.
Năm 1951, ông đem gia đình về Sài Gòn.
Năm 1953, ông qua Pháp học về âm nhạc, tại đây quen với giáo sư Trần Văn Khê. Về lại miền Nam, ông tiếp tục sáng tác và biểu diễn trong ban hợp ca Thăng Long. Nhạc Phạm Duy phổ biến rất rộng rãi ở miền Nam (mà nhạc sĩ Trịnh Công Sơn từng gọi là "bàng bạc khắp mọi nơi"[1] thời bấy giờ). Thời gian này ông có những hoạt động trong ngành điện ảnh, và đã gây nên một vụ tai tiếng lớn khắp từ Nam chí Bắc khi ngoại tình với ca sĩ Khánh Ngọc, là vợ của nhạc sĩ Phạm Đình Chương - người gọi ông bằng anh rể.[2].
Sau sự kiện này, ông lại dính vào một vụ tình cảm nữa với Alice, con gái của một người tình cũ hồi năm 1944 tên Hélène. Tuy nhiên, ông khẳng định cả hai chuyện này đều là những tình cảm trong sáng: "Vì vấn đề chênh lệch tuổi tác cũng như vì tôi không muốn làm phiền những người chung quanh một lần nữa, tôi quyết định ngay từ lúc đầu rằng đây chỉ là một mối tình giữa hai tâm hồn mà thôi. Tôi cố gắng tránh mọi đụng chạm về xác thịt và tôi hãnh diện để nói rằng nàng vẫn là một trinh nữ khi rời xa tôi để bước chân lên xe hoa về nhà chồng. Là một nghệ sĩ, tôi cần tình yêu để sáng tác, giống như con người cần khí trời để thở. Tôi không cần phải chiếm đoạt ai cả, nhất là chiếm đoạt một người con gái còn ít tuổi. Giữa chúng tôi, không có ràng buộc, trói chặt nhau"[cần dẫn nguồn]. Ông đã viết nhạc và lời cho khá nhiều bài nhân chuyện này: "Nụ Tầm Xuân", "Thương Tình Ca", "Chỉ Chừng Đó Thôi", "Tìm Nhau", "Cho Nhau".
Từ sau 30 tháng 4 năm 1975, ông và gia đình cư ngụ tại Thành phố Midway (Quận Cam), California.
Năm 1990, ông bắt đầu viết hồi ký, khi hoàn tất chia làm 4 cuốn.
Năm 1999, vợ ông là bà Thái Hằng qua đời, sự kiện này khiến ông bị cao huyết áp phải đi nằm bệnh viện một thời gian dài. Sau năm này, lần đầu về thăm quê hương sau 25 năm lưu lạc, ông gặp gỡ nhiều bạn cũ ở Việt Nam.
Tháng 5 năm 2005, ông trở về Việt Nam, mua nhà sống tại Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cùng các con trai Duy Quang (ca sĩ), Duy Cường. Tháng 7 cùng năm, có 9 nhạc phẩm của ông được phép lưu hành ở Việt Nam; tháng 11, được phép lưu hành thêm 10 tác phẩm nữa. Tính đến nay (tháng 8 năm 2007) đã có hơn 40 tác phẩm của Phạm Duy được phổ biến tại Việt Nam, tính cả các đoản ca trong "Trường ca con đường cái quan".
[sửa] Phạm Duy và Văn Cao
Phạm Duy là người đầu tiên đem ca khúc Buồn tàn thu của Văn Cao đi khắp mọi miền đất nước. Ông từng có đóng góp vào những tác phẩm của Văn Cao, như cùng đặt lời, viết nhạc cho Bến xuân, Suối mơ. Hai người thường được biết đến như là một đôi bạn thân thiết, có một tình bạn kéo dài nửa thế kỷ, dù đi theo hai con đường đối lập nhau. Họ quen nhau tại Hải Phòng năm 1944. Trong hồi ký của mình, Phạm Duy tả về Văn Cao:
- "Thấp bé hơn tôi, khép kín hơn tôi, nhưng Văn Cao tài hoa hơn tôi nhiều. Chắc chắn là đứng đắn hơn tôi. Lúc mới gặp nhau, anh ta chưa dám mày-tao với tôi, nhưng tôi thì có cái tật thích nói văng mạng (và văng tục) từ lâu, kết cục, cu cậu cũng theo tôi mà xổ chữ nho. Nhưng Văn Cao bản tính lầm lỳ, ít nói, khi nói thì bàn tay gầy gò luôn luôn múa trước mặt người nghe. Anh ta thích hút thuốc lào từ khi còn trẻ, có lần say thuốc ngă vào tay tôi. Về sau, anh còn nghiện rượu rất nặng."[3].
Hai người trở thành đôi bạn thân, thường giúp nhau sáng tác nhạc và ra vào những chốn ăn chơi, sau đó còn rủ nhau theo kháng chiến.
Đến năm 1949, Phạm Duy dinh tê về Nam còn Văn Cao ở lại với cách mạng. Bị cấm liên lạc từ đó đến 1987, khi Phạm Duy ở Hoa Kỳ, Văn Cao ở Việt Nam, họ mới liên lạc với nhau được bằng thư tay, qua một số người Việt kiều. Hai người vẫn xưng hô mày, tao như hồi xưa. Sau này vợ chồng Phạm Duy và vợ chồng Văn Cao còn được nghe giọng nói, xem cử chỉ của nhau bằng tin nhắn qua băng video do cô Nam Trân, một phóng viên truyền hình ở hải ngoại giúp đỡ [4].
Ngoài ra, ban điện ảnh của đài BBC ở Luân Đôn còn định thực hiện một phim về Văn Cao - Phạm Duy, mà họ gọi là hai chàng Lưu - Nguyễn thời nay, lấy cảm hứng từ bài hát "Thiên Thai". Nhưng lúc này Phạm Duy đang bị cấm rất gắt tại Việt Nam, rồi Trịnh Công Sơn đă được mời thay Phạm Duy đóng phim này.
Năm 1995 Văn Cao mất, nhưng phải đến 2001 Phạm Duy mới viếng mộ được. Trong lần đầu trở lại quê hương, ông đă cầm một chai rượu rưới lên khắp mộ người bạn chí cốt [4]. .
[sửa] Gia đình
Gia đình Phạm Duy có nhiều người nổi tiếng trong lãnh vực nghệ thuật:
- Cha của Phạm Duy là nhà văn Phạm Duy Tốn
- Anh cả của Phạm Duy là Phạm Duy Khiêm, một học giả và là một nhà văn viết tiếng Pháp
- Người anh thứ hai của Phạm Duy là Phạm Duy Nhượng, một nhà giáo, cũng là một nghệ sĩ tài tử, tác giả bài Tà áo Văn Quân
- Vợ của Phạm Duy là ca sĩ Thái Hằng
- Một người anh họ của ông là học giả Nguyễn Văn Ngọc
- Sau này ông có cha nuôi là học giả Trần Trọng Kim
Các con của Phạm Duy cũng là những ca sĩ, nhạc sĩ:
Ngoài ra có thể kể đến:
- Ca sĩ Thái Thanh, em gái của bà Thái Hằng
- Ca sĩ Ý Lan, con gái của Thái Thanh, tức cháu gái của Thái Hằng
- Nhạc sĩ Phạm Đình Chương, em trai của Thái Hằng, là ca sĩ Hoài Bắc của ban hợp ca Thăng Long.
- Nghệ sĩ Phạm Đình Sỹ, anh trai của Thái Hằng
- Phạm Đình Viêm, anh trai của Thái Hằng, là ca sĩ Hoài Trung của ban hợp ca Thăng Long.
- Ca sĩ Tuấn Ngọc, chồng của Thái Thảo
- Ca sĩ Mai Hương, con gái của Phạm Đình Sỹ, tức cháu gái của Thái Hằng
[sửa] Sự nghiệp
[sửa] Thời kỳ tiền chiến
Năm 1942, khi còn đang hát cho gánh hát Đức Huy, Phạm Duy cho ra đời tác phẩm đầu tay Cô hái mơ, phổ nhạc cho bài thơ Cô hái mơ của Nguyễn Bính. Năm 1944 đến bài hùng ca Gươm tráng sĩ, là bài hát đầu tiên ông viết cả lời lẫn nhạc.
Thời kháng chiến Nam bộ (1945–1946) ông chơi thân với Văn Cao, ngoài việc cùng ra vào chốn ăn chơi, ông và Văn Cao còn giúp nhau trong phương diện sáng tác (chẳng hạn một số ca khúc của văn cao do ông đặt lời, như bài Bến Xuân). Những nhạc phẩm đầu tay của ông có nhiều hùng ca: Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu... Bên cạnh đó còn có nhạc tình lãng mạn, trong đó có nhiều bài giúp ông trở nên nổi tiếng: Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ, Tiếng bước trên đường khuya...
Năm 1947, Phạm Duy bắt đầu sáng tác nhạc âm hưởng dân ca với mong muốn xâm nhập sâu vào chốn thôn quê hơn, từ đó cho ra đời nhiều bài mà ông gọi là "Dân ca mới", rất được đông đảo quần chúng yêu thích: Nhớ người thương binh (1947), Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Người lính bên tê, Tiếng hát sông Lô, Nương chiều... Những bài này được ông sáng tác dựa trên 2 tiêu chí:
- Nét nhạc vẫn dùng âm giai ngũ cung cố hữu nhưng áp dụng nhạc thuật chuyển hệ làm cho giai điệu không nằm chết trong một ngũ cung nào đó như trong dân ca cổ mà chạy dài trên nhiều hệ thống ngũ cung khác nhau;
- Lời ca tuy nằm trong thể thơ lục bát, nhưng có nhiều khi được biến thể, do đó tiết điệu cũng theo âm tiết của lời ca mà trở nên phong phú hơn
Từ năm 1948, bên cạnh những bài có sắc thái tươi vui như: Gánh lúa, Đường ra biên ải... Ông có sáng tác thêm một thể loại mới: nói về sự đau khổ của những người sống trong chiến tranh. Những bài như: Bao giờ anh lấy được đồn tây (sau đổi thành Quê nghèo), Bà mẹ Gio Linh, Về miền Trung, Mười hai lời ru... đều có hình ảnh làng quê và người dân quê nghèo khổ.
Những bài hát này tuy được quần chúng yêu thích và phổ biến rất rộng rãi, nhưng do nói về sự bi, sự khổ mà Phạm Duy bắt đầu bị sự chỉ trích của cấp trên thời kháng chiến, ông bèn về miền Nam để tự do sáng tác. Năm 1952, bài Tình hoài hương ra đời, khởi xướng cho xu hướng sáng tác "Tình ca quê hương", sau đó là Tình ca; hai bài này được yêu thích từ Nam ra Bắc và nằm trong những tác phẩm tiêu biểu nhất nói về quê hương, với những câu như: "Quê hương tôi có con đê dài ngây ngất, lúc tan chợ chiều xa tắp, bóng nâu trên đường bước dồn, lửa bếp nồng, vòm tre non làn khói ấm hương thôn" (trong Tình hoài hương), "Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi, mẹ hiền ru những câu xa vời, à à ơi! tiếng ru muôn đời" (trong Tình ca).
Tiếp đó ông trở về thể loại dân ca mới với những bài Đố ai, Nụ tầm xuân, Ngày trở về, Người về, Tình nghèo... Bên cạnh đó là Thuyền viễn xứ, Viễn du nói về sự chia lìa quê hương. Bài Hẹn hò nói về sự ngăn chia đôi lứa, ông dùng nhạc ngũ cung giọng Huế. Ngoài ra còn có: Xuân ca, Dạ lai hương, Xuân thì... Năm 1954, ông chuyển từ nhạc tình ca quê hương sang tự tình dân tộc, soạn ra Bà mẹ quê, Em bé quê, Vợ chồng quê, trong đó có Em bé quê với những câu đầu lấy trong sách giáo khoa Quốc Văn, được trẻ con thuộc như bài đồng dao.
[sửa] Thời chia đôi đất nước
Sau khi sang Pháp du học âm nhạc, ông sáng tác thêm được nhiều bài giá trị, ban đầu vẫn là "Dân ca mới", lại có thêm nhiều tác phẩm ca ngợi tình yêu đôi lứa mà phổ biến nhất phải kể đến "Đừng xa nhau", "Ngày đó chúng mình", "Tìm nhau"...
Lúc này ông sáng tác tự do theo nhiều chủ đề, những bài hát như nói về tâm tưởng '"Chiều về trên sông", "Một bàn tay", "Tạ ơn đời", "Đường chiều lá rụng", "Nước mắt rơi"... được Thái Thanh, Kim Tước, Quỳnh Giao thể hiện thành công; nhất là ca sĩ Thái Thanh, em của Thái Hằng, tên tuổi của bà đã gắn liền với những tác phẩm "Dân ca mới" và nhạc tình của Phạm Duy.
[sửa] Thời kỳ ở hải ngoại
Tại Hoa kỳ, thời gian đầu ông sáng tác một số ca khúc nói lên nỗi buồn tha hương. Nhưng sau này ông sáng tác những bài tình ca trở lại. Đáng kể nhất trong thời gian ở hải ngoại là bộ Minh họa Kiều (phổ nhạc truyện Kiều), Trường ca Hàn Mặc Tử, Hương Ca (lúc đầu chỉ có 7 bài), ...
[sửa] Trở về Việt Nam
Sau nhiều lần về thăm quê hương, Phạm Duy chính thức trở về định cư tại Việt Nam ngày 17 tháng 5 năm 2005, với sự cho phép của chính phủ Việt Nam[5]. Sự kiện này được truyền thông trong nước lẫn hải ngoại quan tâm đặc biệt[6][5][7]. Báo chí Việt Nam nhận xét đó là "nhịp cầu nối quê hương với người Việt xa xứ"[5], "niềm vui thống nhất lòng người"[6], còn Phạm Duy nói cuộc trở về này là "lá rụng về cội"[8][9]. Bên cạnh đó, sự kiện này còn gặp phải sự phản đối của người Việt hải ngoại, vì họ cho rằng ông đã về phe cộng sản.
Công ty Phương Nam cũng nhân dịp này, đã đứng ra mua bản quyền toàn bộ nhạc phẩm của Phạm Duy trong vòng 10 năm với giá hơn 400 nghìn đôla [10].
Năm 2006, Phạm Duy tổ chức đêm nhạc mang tên "Ngày trở về" tại nhà hát Thành phố Hồ Chí Minh, đêm nhạc tổ chức quy mô hoành tráng, được công chúng đón nhận nhiệt liệt. Một thiểu số nhân vật đã phản đối sự đón nhận này, trong đó có nhà báo Nguyễn Lưu với bài "Không thể tung hô" đăng trên báo Đầu tư[11]. Tuy nhiên bài viết của Nguyễn Lưu vấp phải sự phản đối của nhiều độc giả[12], bị cho là mắc nhiều "sai lầm ngây ngô", [13] và những "lỗ hổng kiến thức chết người"[14]. Công ty Phương Nam cũng phản hồi bài viết này bằng một bài báo, trong đó nội dung phần lớn để cải chính những kiến thức sai lầm trong bài của Nguyễn Lưu.[15]. Sau đó báo Đầu tư đã thông báo chấm dứt tranh luận về vấn đề này.
Nhiều đêm nhạc Phạm Duy khác với quy mô lớn tiếp tục diễn ra: Con đường tình ta đi, Ngày trở về tại nhiều tỉnh miền Trung, những đêm giới thiệu Minh họa Kiều tại miền Bắc.. Tháng 3 năm 2009, đêm "Ngày trở về" đã tổ chức thành công ở nhà hát lớn, Hà Nội, nơi ông sinh ra, "Xong buổi diễn, tôi mới thực sự là người về hưu" - ông phát biểu [16].
[sửa] Phạm Duy tại những vùng cấm
Nhạc Phạm Duy từng rất phổ biến khắp cả miền Nam, miền Bắc nước Việt Nam trong những năm 1945-1954 và được nhiều người hát. Nhưng từ khi ông tỏ ra bất phục với chính quyền cách mạng, đã có nhiều nhìn nhận khắt khe về ông dẫn đến việc cấm hát, cấm nói về Phạm Duy - nhạc Phạm Duy từ sau năm 1954 tại miền Bắc, và việc ông vượt biên sang Mỹ đã khiến nhà nước Việt Nam đưa ông vào danh sách 2 người bị cấm toàn bộ về nhân thân trên toàn nước Việt Nam từ sau 1975.
[sửa] Tại Bắc Việt Nam trước 1975
Theo hồi ký của Phạm Duy thì lệnh cấm nhạc của ông bắt đầu từ bài Bên cầu biên giới, ra đời năm 1952; bài này bị chỉ trích là có thứ tình cảm bỉ mị buồn bã, làm nản lòng người ta. Sau khi được Nguyễn Xuân Khoát thông báo lệnh cấm, Phạm Duy rời bỏ cách mạng về miền Nam.
Ban đầu tại các diễn đàn văn nghệ còn có những cuộc bàn cãi về việc cho hay không cho hát nhạc Phạm Duy, nhưng về sau thì cấm tiệt. Từ đó, nhạc Phạm Duy bị liệt vào hạng phản động, tên tuổi của ông được đem ra phê phán. Ông cũng bị nghi ngờ có liên hệ với CIA.
Nhạc sĩ Đỗ Nhuận là người hưởng ứng nhiệt tình việc này, ông đặc biệt tỏ ra coi thường âm nhạc của Phạm Duy. Trong các bài viết năm 1958 và 1969, Đỗ Nhuận gọi việc sinh viên miền Bắc phổ biến bài Tìm nhau của Phạm Duy là "rải tuyên truyền", Đỗ Nhuận gọi bài đó là "dâm ô"[17].
[sửa] Tại Việt Nam từ 1975 đến 2005
Sau ngày thống nhất đất nước, Trần Văn Khê từ Pháp có về hỏi Tố Hữu về vụ Phạm Duy, Tố Hữu nói: "Bỏ khúc giữa, lấy khúc đầu và khúc đuôi"[18], nghĩa là vẫn nên phổ biến sau khi bỏ hết những bài sáng tác thời nội chiến. Nhưng rồi nhạc Phạm Duy vẫn bị cấm trên cả nước, ngoài ra bàn luận về Phạm Duy cũng bị cấm. Ông cùng với Hoàng Thi Thơ là hai nhạc sĩ đặc biệt nhất bị cấm về nhân thân.
Tuy vậy, khoảng 30 năm, vẫn thấy vài người viết về Phạm Duy. Trong cuốn Những bài viết tiến bộ công khai trên báo chí Sài Gòn từ 1954 – 1975 có cho đăng lại một phần trích đoạn của cuốn Phạm Duy đă chết như thế nào. Hay như thi sĩ Chế Lan Viên cũng nhắc tới Phạm Duy trong một bài báo tên "Hồi Ký" đăng tại tạp chí Sông Hương ngày 22 tháng 6 năm 1986:
- "Tất cả về cội, không mất mát gì ư? Có chứ, Mất Phạm Duy! Chúng ta tiếc lắm, vì anh có tài lớn. Nhưng chúng ta làm sao được! Anh ấy bỏ chúng ta, chứ chúng ta đâu có bỏ anh."
Bài viết của Chế Lan Viên kết thúc bằng đoạn:
- "Vâng chỉ có trường hợp anh Phạm Duy là…là không cần cội vậy thôi. Chứ hình như hầu hết, lá rụng đều về cội cả và mọc lên thành cội nữa."
Nhà báo Nguyễn Phúc Long trong bài "Công và tội" đăng trên báo Đoàn kết, số 393 ra tháng 7 năm 1987, có nhắc đến Phạm Duy, sau một loạt tên tuổi mà ông cho là "phản bội", nhưng vẫn có công cho văn hoá nước nhà như Trần Ích Tắc, Lê Trắc, Phạm Thái, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Khiêm, Võ Phiến và nhóm Tự Lực Văn Đoàn:
- "Trong lĩnh vực ca nhạc, Phạm Duy, “con người của phản bội”, bị nhân dân ta khinh bỉ cũng đă có cái may mắn là để lại cho chúng ta một số bài hát giàu tính dân ca và trữ tình nhất là những bài được ông ta sáng tác trong thời kỳ đi theo kháng chiến – 1946 - 1949."
Đến năm 1994, báo chí Việt Nam mới có một bài thiện ý với Phạm Duy. Đó là bài thơ "Về thôi" mà nhà văn Lưu Trọng Văn, con trai nhà thơ Lưu Trọng Lư, gửi lên tờ Tuổi trẻ chủ nhật, có đề chữ "Tặng P.D." bên cạnh. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đă phổ nhạc bài này. Rồi sau đó chính Phạm Duy cũng phổ nhạc với tên "Trăm năm bến cũ". Theo Phạm Duy, đây là bài thơ làm ông nghĩ nhiều tới việc về thăm Việt Nam, mà năm 2001 ông đă thực hiện.
[sửa] Phân loại tác phẩm
Các sáng tác của Phạm Duy có thể chia ra làm nhiều loại:
- Nhạc kháng chiến: Sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, nói lên sự căm giận của người dân quê đối với giặc cướp nước, phá làng. Tiêu biểu có thể kể: Bà mẹ Gio Linh, Mười hai lời ru, Chiến sĩ vô danh.
- Nhạc quê hương: Một phần quan trọng trong sự nghiệp của ông, gồm những bài ca ngợi quê hương đất nước, hình ảnh con trâu, đồng lúa, cái cày... Nhiều bài rất quen thuộc với người Việt: Tình ca, Về miền Trung, Tình hoài hương, Bà mẹ quê, Em bé quê...
- Nhạc tình đôi lứa: Tình yêu là một đề tài lớn trong cuộc đời cũng như trong sự nghiệp sáng tác của Phạm Duy. Nhạc tình có khối lượng nhiều nhất trong kho nhạc đồ sộ của ông, có thể kể những bài được giới trẻ trong nam ngoài bắc hát như Hẹn hò, Cỏ hồng, Ngày đó chúng mình, Cây đàn bỏ quên, Phượng yêu, Kiếp nào có yêu nhau, Đừng xa nhau, Mưa rơi, Đường em đi, Tôi còn yêu tôi cứ yêu, Trả lại em yêu, Giết người trong mộng...
- Nhạc tâm tư: Ngoài viết về tình yêu trai gái, tình yêu quê hương, thì những sự suy tưởng cao siêu hay nhớ nhung buồn nản vẩn vơ cũng được Phạm Duy ghi lại thành nhạc, có thể kể đến Đường chiều lá rụng, Bên cầu biên giới, Chiều về trên sông, Dạ lai hương, Viễn du... Hay những bài nói lên tâm trạng phẫn uất trước nội chiến, cảm khái trước thế thời như: Huyền sử ca một người mang tên Quốc.
- Trường ca: Những tác phẩm lớn khiến ông có một địa vị chắc chắn trong nền tân nhạc Việt Nam: Con đường cái quan, Mẹ Việt Nam, Hàn Mạc Tử, sau này là Minh họa Kiều, bản trường ca dài nhất và hoàn thành lâu nhất của ông.
- Rong ca: Gồm 10 bài sáng tác năm 1988: Người tình già trên đầu non, Hẹn em năm 2000, Mẹ năm 2000, Mộ phần thế kỷ, Ngụ ngôn mùa Xuân, Nắng chiều rực rỡ, Bài hát nghìn thu, Trăng già, Ngựa hồng, Rong khúc.
- Đạo ca: Gồm 10 bài, phổ thơ của Phạm Thiên Thư vào thập niên 1970: Pháp thân, Đại nguyện, Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng, Quán thế âm, Một cành mai, Lời ru bú mớm nâng niu, Qua suối mây hồng, Giọt chuông cam lộ, Chắp tay hoa, Tâm xuân.
- Thiền ca: Gồm 10 bài, sáng tác vào thập niên 1980: Thinh không, Võng, Thế thôi, Không tên, Xuân, Chiều, Người tình, Răn, Thiên đàng địa ngục, Nhân quả.
- Tâm ca: Gồm 10 bài, thở than về những xáo trộn trong cuộc sống người dân miền Nam thời Đệ nhất Cộng hòa Việt Nam sụp đổ: Tôi ước mơ (thơ Thích Nhất Hạnh), Để lại cho em (thơ Nguyễn Đắc Xuân), Tiếng hát to, Ngồi gần nhau, Giọt mưa trên lá, Một cành củi khô, Kẻ thù ta (ý thơ Nhất Hạnh), Ru người hấp hối, Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe, Hát với tôi. Ngoài ra còn nhiều bài khác cũng theo hướng Tâm ca như Những gì sẽ đem theo về cõi chết, Tôi còn yêu tôi cứ yêu.
- Tâm phẫn ca: Sáng tác sau Tết Mậu Thân: Tôi không phải gỗ đá, Nhân danh (thơ Tâm Hằng), Bi hài kịch (thơ Thái Luân), Đi vào quê hương (thơ Hoa Đất Nắng), Người lính trẻ, Bà mẹ phù sa... Ngoài ra còn một số bài sáng tác cho phong trào du ca.
- Tục ca, vỉa hè ca: Gồm những bài ca lời dung tục, chỉ có tác giả hát, không ca sĩ nào hát, đến nay đã thất truyền.
- Bên cạnh những thể loại kể trên, còn có Tổ khúc Bầy chim bỏ xứ, Tị nạn ca nói về tâm trạng và sự khó nhọc của người ly hương; Hoàng Cầm ca phổ những bài thơ của thi sĩ Hoàng Cầm; Hương ca sáng tác khi ông về ở Việt Nam...
[sửa] Trường ca
[sửa] "Con đường cái quan"
Những dòng nhạc đầu tiên của trường ca này được ông sáng tác năm 1954 tại Paris, ngay khi Hiệp định Genève vừa ký kết để phản đối sự chia cắt đất nước. Phần còn lại được soạn sau đó 6 năm, hoàn tất năm 1960. Cho đến nay đây vẫn là trường ca thành công nhất của Phạm Duy.
Nội dung trường ca nói về một sự du hành từ miền Bắc Việt Nam, qua miền Trung Việt Nam, đến miền Nam Việt Nam của một người du khách, với chí hướng nối ba miền làm một. Chuyến đi ấy bắt đầu từ Ải Nam Quan cho đến mũi Cà Mau, từ ngày lập quốc cho đến ngày hoàn thành, đi trong lịch sử nhưng cũng là trong lòng người dân để nối liền đất nước, nối liền lòng dân, mà đi tới đâu người lữ khách cũng được dân chúng miền đó đón chào.
Trường ca này gồm có ba phần: từ miền Bắc, qua miền Trung, vào miền Nam. Mỗi phần được sáng tác theo phong cách dân ca nơi đó và mỗi phần mang một ý nghĩa riêng. Phần từ miền Bắc bắt đầu bằng âm điệu hào hùng, như tâm trạng người vừa lên đường vì chí lớn, và trở nên dịu êm dần. Nhạc chuyển thành đau xót ở phần qua miền Trung, do chứng kiến cảnh lầm than của dân. Nhạc tươi sáng dần lên khi sang đoạn vào miền Nam vì lòng sung sướng của người lữ khách đã làm được một việc lớn.
Theo nhiều người (Trần Văn Khê, Georges Étienne Gauthier...), trường ca "Con đường cái quan" đã chứng tỏ có thể đem yếu tố nhạc Việt Nam truyền thống kết hợp với nhạc giao hưởng phong cách Tây phương mà vẫn không làm mất tính chất Việt. Trường ca được phát sóng rất nhiều lần trên Đài Phát thanh Sài Gòn với giọng Thái Thanh, Kim Tước, Thái Hằng – Duy Khánh, Nhật Trường, Trần Ngọc và ban nhạc Hoa Xuân để trở những giai điệu quen thuộc nhất của Việt Nam. Nhiều sinh viên ở nhiều nơi đã dựng tác phẩm này thành một hoạt cảnh. Sau này, khi nhạc Phạm Duy đã bị cấm tại Việt Nam, đài truyền hình Bình Dương vẫn thường mở một vài đoạn hoà tấu ngắn trong trường ca lúc chuyển tiếp chương trình.
[sửa] "Mẹ Việt Nam"
Tác phẩm này rực rỡ không kém trường ca Con đường cái quan. Mẹ Việt Nam soạn năm 1964 và hoàn thành trong năm đó, ca tụng hình ảnh người mẹ tổ quốc hay những bà mẹ điển hình trong lịch sử.
Trường ca gồm 4 phần: Đất mẹ, Núi mẹ, Sông mẹ và Biển mẹ, tượng trưng cho các giai đoạn của bà mẹ: từ tươi trẻ mầu mỡ đến kiên cường sắt đá rồi thì rộng lượng bao dung. Khi sáng tạo hình ảnh người mẹ trong trường ca này, tác giả có ý đi tìm "mẫu số chung" của dân tộc. Tác phẩm này có phong cách dân ca với giọng khoan hò và điệu ru con mà giai điệu và lời, theo Georges Étienne Gauthier trong cuốn Một người Gia Nã Đại với nhạc Phạm Duy, đã đạt tới trình độ "toàn thiện".
Về sự phổ biến, trường ca "Mẹ Việt Nam" có lẽ không được rộng rãi như "Con đường cái quan", nhưng vẫn rất được nhiều người yêu thích qua những giọng của Thái Thanh, Kim Tước, Thái Hằng – Duy Khánh, Nhật Trường, Trần Ngọc và ban nhạc Hoa Xuân.
[sửa] "Hàn Mạc Tử"
Trường ca này được sáng tác bên Mỹ vào năm 1994, dựa vào 9 bài thơ của Hàn Mạc Tử. Trường ca gồm ba phần: Tình quê, Trăng sao và Ave Maria, mà tác giả đã cố ý diễn tả tâm trạng của Hàn Mạc Tử qua giai điệu của mình. Do sáng tác bên Mỹ và chỉ hát bên Mỹ, cộng với giai điệu mang nhiều phong cách Tây phương nên trường ca này không phổ biến tại Việt Nam bằng hai trường ca trên, tuy vậy vẫn được xem là thành công với giọng hát Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Duy Quang, Thái Thảo.
[sửa] "Bầy chim bỏ xứ"
Theo Phạm Duy, "Con đường cái quan" mang tính chất tả thực, "Mẹ Việt Nam" mang tính chất tượng trưng, "Hàn Mạc Tử" mang tính chất siêu hình, thì "Bầy chim bỏ xứ" mang tính chất ẩn dụ.
Trường ca này có thể cho là một thành công của Phạm Duy, dù chỉ ở hải ngoại. Khởi soạn năm 1975, hoàn tất năm 1985, thu thanh năm 1990, với các giọng ca Kim Tước, Vũ Anh, tác phẩm này gồm 16 đoản khúc (có thể là 16 bài hát riêng) nói về một bầy chim, mà mỗi con chim ẩn dụ cho một hạng người, một số phận khác nhau... mà chính nhất là chim quyên, lấy cảm hứng từ tích Thục Đế. Chim quyên rời bỏ thôn Đoài, trải qua bao nhiêu việc, bao nhiêu lần hoá thân, rồi chết nơi xứ người, nhưng từ đống tro tàn ấy, chim quyên lại tái sinh để về lại thôn Đoài.
[sửa] "Minh họa Kiều"
Như tên của nó, tác phẩm này có ý minh họa lại truyện Kiều của Nguyễn Du, để thể hiện lòng kính trọng của tác giả với nhà đại thi hào. Đây là tác phẩm rất dài vì gom gần hết những lời thơ trong Truyện Kiều, âm điệu cũng phức tạp nhưng không đậm màu dân ca. "Minh họa Kiều" chia ra làm bốn phần, bốn giai đoạn của Thuý Kiều: phần một Kiều gặp Đạm Tiên, biết được số phận long đong của mình; phần hai Kiều gặp Kim Trọng, tình yêu nảy nở nhưng biết là không trọn vẹn; phần ba là giai đoạn khổ nhục của Thuý Kiều; phần bốn Kiều gặp Từ Hải, phần này tác giả chưa soạn xong.
Theo Phạm Duy, đây là tác phẩm ông bỏ công nhiều nhất (sáng tác những năm cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21). Tác phẩm được thể hiện đầu tiên với giọng Duy Quang, Tuấn Ngọc, Thái Hiền, Ái Vân, Thanh Ngoan, Thái Thảo, Anh Dũng,...
Tháng 3 năm 2009, ông cho biết đã hoàn thành Minh họa Kiều, ông có nhiều buổi diễn thuyết tại Hà Nội về đề tài này.
[sửa] Phổ nhạc, đặt lời
Phạm Duy được xem là một trong số ít nhạc sĩ Việt Nam giỏi về nghệ thuật phổ nhạc vào thơ và đặt lời cho nhạc nước ngoài, nhạc bán cổ điển.
Những tác phẩm thơ phổ nhạc thành công nhất của ông có thể kể đến "Ngậm ngùi" (thơ Huy Cận - nhà thơ Huy Cận từng gửi lời cám ơn ông về việc giúp bài thơ này nổi tiếng); "Ngày xưa Hoàng Thị" (thơ Phạm Thiên Thư); "Áo anh sứt chỉ đường tà" (thơ Hữu Loan); "Tiễn em" (thơ Cung Trầm Tưởng); "Tỳ bà" (thơ Bích Khê); "Vần thơ sầu rụng", "Tiếng thu" (thơ Lưu Trọng Lư); "Tình cầm" (thơ Hoàng Cầm); "Em hiền như Masoeur", "Thà như giọt mưa", "Hai năm tình lận đận" (thơ Nguyễn Tất Nhiên)...
Nhiều ca khúc nước ngoài nhờ ông đặt lời Việt mà trở nên phổ biến ở Việt Nam, như "Em đẹp nhất đêm nay" (La plus belle pour aller danser), "Khi xưa ta bé" (Bang bang), "Tình cho không biếu không" (L'amour c'est pour rien), "Tuyết Rơi" (Tombe la neige), "Tiếng Cười Trong Đêm" (La nuit), "Những Mùa Nắng Đẹp" (Seasons in The Sun), "Chuyện tình" (Love Story của Francis Lai),... Ngoài ra ông còn đặt lời cho dân ca của nhiều nước trên thế giới.
Tiếp đến là những tác phẩm nhạc bán cổ điển, vốn là loại nhạc khó hoà nhập, thì ông cùng với tiếng hát Thái Thanh đã dễ dàng đưa đến số đông dân chúng: "Dạ khúc" (Nächtliches Ständchen của Franz Schubert), "Dòng sông xanh" (An der schönen blauen Donau op. 314 của Johann Strauss), "Mối tình xa xưa" (Célèbre Valse, hay bài số 15 trong "16 bài valse cho piano", của Johannes Brahms)...
[sửa] Ca sĩ thể hiện
Thành công nhất với nhạc Phạm Duy cho đến nay là Thái Thanh. Thái Thanh hát nhạc Phạm Duy từ những ngày đầu ông sáng tác, bà đã biểu diễn và ghi âm hàng trăm bài. Từ những bài "Dân ca mới" như Tình ca, Người về, Về miền Trung, Quê nghèo, Tình hoài hương,..., những bài có âm điệu phức tạp như Đường chiều lá rụng, Chiều về trên sông... đến tình ca đôi lứa dễ hát dễ thuộc như Ngày xưa Hoàng Thị, Nghìn thu, Dạ lai hương... bà đều thể hiện tốt với sự đồng cảm. Nhạc Phạm Duy - giọng Thái Thanh đã là sự kết hợp hoàn hảo suốt nhiều thập kỷ qua.
Về mảng nhạc mang âm hưởng dân ca, ngoài Thái Thanh còn có một giọng nam thể hiện thành công là Duy Khánh. Những bản Ngày trở về, Chiến sĩ vô danh, Một bàn tay, Những bàn chân, Quê nghèo, Về miền Trung, Dân ca thương binh, Dặn dò,.. từng nổi tiếng cùng với tên tuổi Duy Khánh. Duy Khánh cùng với Thái Thanh là hai ca sĩ đầu tiên thể hiện hai trường ca Con đường cái quan và Mẹ Việt Nam, và được xem là thành công nhất. Cho đến nay chỉ có vài ca sĩ hay nhóm nhạc hát lại hai trường ca này.
Ngoài hai danh ca trên, có thể kể đến Khánh Ly với rất nhiều ca khúc thành công như Xuân Thì, Khối tình Trương Chi, Còn gì nữa đâu, 54-75, Bên Ni Bên Nớ; Kim Tước, Quỳnh Giao, Mai Hương, Hà Thanh hát ít nhưng cũng được yêu thích với những phong cách riêng. Một số ca sĩ thành công với những bài riêng như Julie với Mùa thu chết, Yêu Tinh Tình Nữ, Huyền thoại trên một vùng biển; Lệ Thu với Ngậm ngùi, Thuyền viễn xứ, Nước Mắt Mùa Thu, Người Về; Duy Quang với Chỉ chừng đó thôi, Em hiền như Masoeur, Cô bắc kỳ nho nhỏ; Tuấn Ngọc với Tiễn em, Hẹn hò, Trăng sao rớt rụng; Thái Hiền thì nổi danh khoảng thập niên 1970 với những bài nhạc Phạm Duy sáng tác cho "tuổi ô mai". Gần đây có các ca sĩ Bích Liên, Mộng Thủy,... tại Mỹ cũng hát thành công nhạc Phạm Duy.
Gần đây có nhóm ca sĩ trẻ ở Việt Nam gồm Mỹ Linh, Đức Tuấn, Quang Linh... cũng hay hát nhạc Phạm Duy, riêng nam ca sĩ Đức Tuấn đã cho là mình thành công với nhạc Phạm Duy trong một bài phỏng vấn[19].
[sửa] Nhận xét
- Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý:
- "Trong "gia tài" của Phạm Duy, có những tác phẩm mà qua lăng kính của mình ông đã nói lên những triết lý sâu sắc. Chẳng hạn như "Nghìn trùng xa cách, người đã đi rồi. Còn gì đâu nữa mà khóc với cười"… Công tâm mà nói, trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, Phạm Duy là một nhạc sĩ có nhiều tác phẩm để đời và mãi mãi còn trong lòng người Việt Nam qua nhiều thế hệ." - Trong bài viết Phạm Duy, người bạn, người anh, người thầy của tôi
- Nhạc sĩ Lê Uyên Phương:
- "Như tiếng chuông vọng đến từ hư vô. Như những tia chớp sáng ngời trong đêm tối. Như những tia nắng ấm đầu tiên của một ngày trong mùa Đông giá lạnh. Như những tia nắng chiều rực rỡ của một ngày đầy vui buồn của kiếp sống. Âm nhạc Phạm Duy đã đến trong mỗi cuộc đời Việt Nam như không khí trong bầu khí quyển của ca dao, tục ngữ, của truyện Kiều, của Cung Oán Ngâm Khúc, của Chinh Phụ Ngâm, của ngôn ngữ, của âm thanh, của cảm xúc Việt Nam. Trong đáy lòng của mỗi người Việt Nam, từ đã từng là một thiếu niên trong thời kháng chiến hay đến hôm nay là một thanh niên ở cuối thế kỷ 20, đều mang một dấu vết nào đó còn sót lại của bầu dưỡng khí đã nuôi lớn tâm hồn họ trong gần nửa thế kỷ nàỵ" - Trong bài viết Phạm Duy, nắng chiều rực rỡ
- Giáo sư Trần Văn Khê:
- "Từ trước đến giờ, tôi chỉ thấy Mai Văn Bộ, Lê Thương và Phạm Duy là đặt lời đẹp nhất - từ năm 1950 đến giờ tôi không theo sát phong trào nhạc mới nên có thể có nhiều người khác đặt lời đẹp mà tôi chưa biết - Có điều tôi chắc là trong hầu hết những bài hát của Phạm Duy, lời và nhạc chẳng những hay, mà lại có tánh cách giản dị, mộc mạc và nên thơ của những bài ca daọ Những câu lục bát biến thể, hay những câu lục bát có thêm tiếng đệm được phổ nhạc một cách tài tình." - Trong bài viết Nhân xem trường ca "Con đường cái quan" của Phạm Duy
- Thi sĩ Nguyên Sa:
- "Hôm nay, có những người thích Rong Ca, có những người mê Bầy Chim Bỏ Xứ, có những người ngất ngây với Hoàng Cầm Ca, có những tín đồ của Thiền Ca. Có những người yêu Phạm Duy của new age, của nhạc giao hưởng, của mini opera và của thánh ca hơn Phạm Duy của Tình ca, Phạm Duy của dân ca, Phạm Duy của Kháng chiến ca, Phạm Duy của thơ phổ nhạc. Và ngược lại, có những người, với họ, chỉ có Phạm Duy của Tình ca mới là Phạm Duy. Chỉ có Phạm Duy Kháng Chiến Ca. Chỉ có Phạm Duy thơ phổ nhạc. Chỉ có Phạm Duy, chỉ có Phạm Duỵ... Nhưng đó, bạn thích Phạm Duy nào, tùy bạn. Cũng vậy thôi Viên kim cương có một ngàn mặt. Khác biệt với tấm gương chỉ có một mặt. Cho nên phải chọn lựa, phải bàn cãi, phải bất đồng, phải suối ngàn đầu, sông trăm nhánh chảy về vĩnh viễn một đại dương." - Trong bài viết Phạm Duy, đại lực sĩ
- Nhà nghiên cứu nhạc Georges-Étienne Gauthier:
- "Sở dĩ cái tiếng Việt Nam có thể gợi nơi tôi một chút ý tưởng hoà bình và đẹp đẽ, nhân ái và từ thiện, sở dĩ trải qua nhiều tháng nhiều năm, tôi đã có thể yêu mến nước Việt Nam ít ra cũng như yêu mến chính nước tôi, sở dĩ như thế trước hết và trên hết là chính nhờ Phạm Duy và một số nghệ sĩ Việt Nam khác." - Trong cuốn Một người Gia Nã Đại và nhạc Phạm Duy
[sửa] Danh mục
[sửa] Viết về Phạm Duy
- Nhạc
- Trong bài hát "Sài Gòn niềm nhớ không tên" của nhà thơ Nguyễn Đình Toàn có đoạn:
- Sài Gòn ơi! Thôi hết rồi những ngày hát nhớ nhau
- Nhớ Phạm Duy với tình ca sầu
- Mắt lệ rơi khóc thuở ban đầu
- Còn gì đâu...
- Sách
- Một người Gia Nã Đại và nhạc Phạm Duy - Georges-Étienne Gauthier
- Phạm Duy - còn đó nỗi buồn - Tạ Tỵ
- Nửa thế kỷ Phạm Duy - Xuân Vũ
- Hồi ký Phạm Duy - Phạm Duy
- Hành trình Phạm Duy qua dòng lịch sử - Jason Gibbs
- Tiểu luận, báo chí
- Phạm Duy, đại lực sĩ; Phạm Duy với ngàn lời ca - Nguyên Sa
- Văn Cao - Phạm Duy : Trần Gian Và Tiên Cảnh - Thụy Khuê
- His Music Links The Generations - Los Angeles Times
- Phạm Duy Thể Nghiệm Việt Nhạc - Latina Musica Contemporanea Del Mundo
- Nghệ thuật phổ thơ vào nhạc - Phạm Quang Tuấn
- Viết về Phạm Duy - Nguyễn Đình Toàn
- Con đường cái quan - Georges-Étienne Gauthier
- Phạm Duy, Vietnam's Music Man - Ngọc Bích
- Văn Cao - Phạm Duy : Hai con người, một mối tình - Phạm Thế Định
- Phạm Duy và tiếng hát quê hương - Giao Chỉ
- Phạm Duy và tôi - Ngô Đồng
- Phạm Duy, Con én đưa thoi - Cổ Ngư
- Phạm Duy - Nhạc sỹ vượt thời gian - Nguyễn Ngọc Sơn
- Tính hiện thực trong ca từ của Phạm Duy - Trần Hữu Thục
- Phạm Duy người nghệ sĩ tự do - Đỗ Xuân Kiên
[sửa] Nhạc phẩm
- Để xem đầy đủ danh sách các sáng tác của Phạm Duy, xem Nhạc Phạm Duy.
|
|
|
|
[sửa] Tập nhạc đã in
- Những điệu hát bình dân Nhà xuất bản Đất Mới -Thanh Hoá, 1950.
- Tình ca, Tự xuất bản - Saigon, 1969.
- Một mẹ trăm con, Bộ Thông Tin - Saigon, 1962.
- Trường Ca Con đường cái quan, Tập san Sáng dội miền Nam - Saigon,1960 và Quảng hoá - Saigon, 1970.
- Mười Bài Tâm Ca, Lá Bối - Saigon, 1965.
- Ngày đó chúng mình yêu nhau - An Tiêm - Saigon, 1968.
- Gìn vàng Giữ ngọc, Saigon, 1971
- Nghìn trùng xa cách, An Tiêm - Saigon, 1968.
- Hát vào đời, An Tiêm - Saigon, 1969.
- Vòng tay thế giới, Quảng Hóa - Saigon, 1969.
- Giết người trong mộng, Trí Dũng - Saigon, 1970.
- Ca khúc cho ngày mai, Quảng Hóa - Saigon, 1970.
- Cho nhau riêng nhau một đời, Khai Phóng - Saigon, 1970.
- Giọt lệ cho tình ta, Chân Mây - Saigon, 1970.
- Mười bảy tình ca bất tử Thương Yêu - Saigon, 1971.
- Đạo ca, Văn học sử - Saigon, 1971.
- Nhi đồng ca, Cục Tâm lý chiến - Saigon,1971.
- Kỷ vật chúng ta, Gìn vàng Giữ ngọc - Saigon, 1971.
- Thương ca chiến trường, Gìn vàng Giữ ngọc - Saigon, 1971.
- Chiến ca mùa hè, Tiên Rồng- Saigon, 1972.
- Con đường tình ta đi, Gìn vàng Giữ ngọc- Saigon, 1973.
- Tuyển tập nhạc tiền chiến (trong đó có nhạc Phạm Duy) Kẻ sĩ - Saigon, 1968.
- Tuyển tập 20 năm nhạc tình(trong đó có nhạc Phạm Duy) Khai Phóng - Saigon,1970.
- Hoàng cầm ca, Hội văn hoá VN tại Bắc Mỹ - Hoa Kỳ, 1984.
- Thấm thoát mười năm, Hội văn hoá VN tại Bắc Mỹ - Hoa kỳ, 1984
- TỦ SÁCH CÀNH NAM và TẠP CHÍ XÁC ĐỊNH - Hoa kỳ, 1985.
- MƯờI BÀI RONG CA PDC PRODUCTIONS, Midway City, USA 1988
- MƯờI BÀI TÂM CA PDC PRODUCTIONS, Midway City, USA 1990
- BẦY CHIM BỎ XỨ CÀNH VÀNG - Westminster, CA USA 1990
- MộT ĐờI ĐỂ YÊU (30 tình khúc) NAM Á - Paris FRANCE 1989
- VƯờN THƠ CÁNH NHẠC (30 bài thơ phổ nhạc) NAM Á - Paris FRANCE 1989
- TÌNH SI (30 tình khúc) NAM Á - Paris FRANCE 1992
- TÌNH CA QUÊ HƯƠNG(30 bài ca quê hương) NAM Á - Paris FRANCE 1992
- LỊCH SỬ TRONG TIM (30 bài ca kháng chiến) NAM Á - Paris FRANCE 1992
- HÁT TRÊN ĐƯờNG VỀ (Đạo Ca, Rong Ca, Thiền Ca) NAM Á - Paris, FRANCE 1992
- NIỀM VUI CÒN ĐÓ (Bé Ca, Nữ Ca,Bình Ca) HỒNG LĨNH - Westninster, CA USA 1994
- TẠ ƠN ĐờI HỒNG LĨNH - Westninster, CA, USA 1994 Có Thêm Ngoại Ngữ
- Trường Ca Mẹ Việt Nam (Việt-Anh-Pháp) Phủ Đặc Ủy Chiêu Hồi - Saigon,1960 LÁ BỐI, 1967
- Trường Ca Mẹ Việt Nam (Việt-Pháp) NAM Á, Paris, FRANCE 1985
- DÂN CA - FOLK SONGS (Việt -Anh) USIS - Saigon, 1968.
- HOAN CA (Việt - Anh) DU CA - Saigon, 1973.
- HÁT TRÊN ĐƯờNG TỊ NẠN (Việt-Anh) ĐÔNG PHƯƠNG - Santa Ana, CA USA1979.
- MƯờI BÀI NGỤC CA (Việt-Anh) NGUYỄN HỮU Hiệu - Arlington, VA USA1980.
- HAI MƯƠI BÀI NGỤC CA (Việt-Anh) Hội VĂN HOÁ Bắc Mỹ - Arlington, VA USA 1980.
- NGỤC CA (Việt-Anh-Pháp) QUÊ ME - Paris, 1982. PDC Productions - MIdway City CA USA 1989
- DÂN CA FOLK SONG-CHANT POPULAIRE (Việt, Anh, Pháp) PDC Musical Productions - Midway City, 1980.
- Trường Ca CON ĐƯỜNG CÁI QUAN (Anh-Việt) PDC Musical Productions, Midway City, 1980
[sửa] Sách giáo khoa, sử liệu
- Lược khảo về dân nhạc Việt Nam, Hiện Đại - Saigon, 1970. Xuân Thu tái bản, USA 1991
- Music of Viet Nam S.I.U - Carbondale, ILL USA 1975.
- Tự học Guitare (3 Tập) Phạm Duy Enterprises Midway City, CA USA 1976.
- Hồi ký (3 tập) PDC Productions -Midway City, CA USA 89, 90, 91
- Ngàn lời ca, PDC Productions -Midway City, CA USA 1987, 88
- Đường về dân ca, Xuân Thu - Los Alamitos, CA, USA 1990
- Nửa thế kỷ tân nhạc (bài báo) Nguyệt san Văn Học, Mỹ
- Những năm đầu của tân nhạc (bài báo) Tập San HợP LƯU - CA 1994
- Tân nhạc Việt Nam thời kỳ đầu - PNC, Việt Nam, 2005
[sửa] Chú thích & Tham khảo
- ^ Xem bài phỏng vấn Trịnh Công Sơn trên Kiến thức ngày nay, số xuân 1995
- ^ 7:21, 29/03/2005
- ^ Phạm Duy,
- ^ a b Hồi ký Phạm Duy, tập 4, chương 21
- ^ a b c Phạm Duy được phép về Việt Nam sinh sống - vietbao.vn
- ^ a b Ngày về của Phạm Duy: Niềm vui "Thống nhất lòng người
- ^ Phạm Duy về đến Việt Nam -bbc
- ^ Nhạc sĩ Phạm Duy-Lá rụng về cội
- ^ Lá muốn rụng về cội
- ^ Cty Phương Nam khai thác nhạc Phạm Duy trong 10 năm, giá gần nửa triệu đô la - vietweekly
- ^ NS Phạm Duy đụng sự công kích đầu tiên ở trong nước-vietweekly
- ^ Phản hồi của độc giả - vietbao
- ^ Có nên cho tranh luận về Phạm Duy không? - tuanpham.org
- ^ Phản hồi xung quanh bài viết về nhạc sĩ Phạm Duy - nguoivienxu.vietnamnet.vn
- ^ Phản ứng của Phương Nam-vietbao.vn
- ^ Nhạc sĩ Phạm Duy trở về Hà Nội - bbc
- ^ Jason Gibbs - Nhạc vàng hóa vàng
- ^ Xem bài "Hồi ký" của Chế Lan Viên đăng trên tạp chí Sông Hương ngày 22 tháng 5 năm 1986
- ^ [1]
- Phạm Duy, Hồi ký
- Georges-Étienne Gauthier, Một người Gia Nã Đại và nhạc Phạm Duy
- Tạ Tỵ, Phạm Duy - còn đó nỗi buồn
- Xuân Vũ, Nửa thế kỷ Phạm Duy
Nhạc Phạm Duy
Đây là danh sách các sáng tác của nhạc sĩ Phạm Duy được lấy từ trang web chính thức của nhạc sĩ. Các bài hát được xếp theo thứ tự thời gian do chính Phạm Duy phân loại. Danh sách bao gồm cả những ca khúc nước ngoài được Phạm Duy viết lời Việt.
Danh sách còn bổ sung một số ca khúc không được nhạc sĩ nhắc đến như Tục ca, và một số ca khúc sáng tác sau này như Minh họa kiều, Hương ca...
[sửa] Bước đầu
- Sáng tác đầu tay: Cô hái mơ
- Nhạc hùng, từ tráng sĩ tới chiến sĩ: Gươm tráng sĩ, Chinh phụ ca, Xuất quân, Thu chiến trường, Chiến sĩ vô danh, Nợ xương máu
- Nhạc tình đầu mùa kháng chiến: Cây đàn bỏ quên, Khối tình Trương Chi, Tình kỹ nữ
- Một bài ca xã hội: Tiếng bước trên đường khuya
[sửa] Toàn quốc kháng chiến
- Thanh niên ca: Nhạc tuổi xanh, Về đồng hoang (Về đồng quê), Đường về quê, Thanh niên ca, Thanh niên quyết tiến, Đoàn quân văn hoá
- Quân ca: Khởi hành, Thiếu sinh quân, Quân y ca, Một viên đạn là một quân thù, Dân quân du kích, Ngọn trào quay súng, Việt Bắc, Thiếu sinh quân, Đường Lạng Sơn, Bông lau rừng xanh pha máu
- Nhạc tình trong kháng chiến: Bên cầu biên giới, Tiếng đàn tôi, Đêm xuân, Chú Cuội
- Một bài hát đoạn tình: Cành hoa trắng
[sửa] Dân ca mới - Phần 1
- Sự vinh quang: Nhớ người thương binh, Dặn dò, Ru con, Mùa đông chiến sĩ, Nhớ người ra đi, Bên ni bên tê, Tiếng hát trên sông Lô, Nương chiều
[sửa] Dân ca mới - Phần 2
- Sự đau khổ: Quê nghèo, Bà mẹ Gio Linh, Về miền trung, Mười hai lời ru
- Những bài hát cuối cùng trong kháng chiến: Gánh lúa, Đường ra biên ải
[sửa] Tình tự với quê hương, dân tộc
- Tình ca quê hương: Tình hoài hương, Tình ca
- Tình tự dân tộc: Bà mẹ quê, Vợ chồng quê, Em bé quê
[sửa] Cuộc lữ
- Lên đường viễn du, viễn xứ: Thuyền viễn xứ, Viễn du
- Lên đường trong tâm tưởng: Lữ hành
[sửa] Phát triển dân ca
- Dân Ca - Tình cảm - Xã hội: Nụ tầm xuân, Đố ai, Hẹn hò, Ngày trở về, Người về, Tiếng hò miền nam, Thi đua chăm học, Tình nghèo, Hò lơ, Phố buồn
[sửa] Tiếp tục nhạc tình
- Nhạc tình cảm tính: Tìm nhau, Thương tình ca, Ngày đó chúng mình, Kiếp nào có yêu nhau, Đừng xa nhau, Mưa rơi, Đường em đi, Mộng du, Nếu một mai em sẽ qua đời, Còn gì nữa đâu
[sửa] Tình yêu - Sự đau khổ - Cái chết
- Nuớc mắt rơi, Đường chiều lá rụng, Tạ ơn đời, Một bàn tay
[sửa] Bổn phận công dân
- Chào mừng Việt Nam, Chim lồng
- Một bài bé ca: Một đàn chim nhỏ
[sửa] Ca hát bốn mùa
- Hoa xuân, Xuân thì, Xuân nồng, Tơ tình (Tình ca mùa thu), Dạ lai hương, Chiều về trên sông
[sửa] Tiếp tục đi - Tiếp tục yêu
- Tiếp tục lữ hành: Xuân hành, Những bàn chân, Xuân ca, Bài ca sao, Bài ca trăng
- Tiếp tục nhạc tình: Cho nhau, Ngày em hai mươi tuổi, Tôi đang mơ giấc mộng dài
[sửa] Trường ca
- Con đường cái quan: Anh đi trên đường cái quan - Tôi đi từ ải Nam Quan - Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa - Người về miền xuôi - Này người ơi - Tôi đi từ lúc trăng tơ - Ai đi trong gió trong sương - Ai vô xứ Huế thì vô - Ai đi trên dặm đường trường - Nước non ngàn dặm ra đi - Gió đưa cành trúc la đà - Tôi xa quê nghèo ruộng nghèo - Anh đi đường vắng đường xa - Nhờ gió đưa về - Đi đâu cho thiếp theo cùng - Đèn cao Châu Đốc gió độc Gò Công - Cửu Long Giang/Về miền Nam - Giã ơn cái cối cái chầy/Về miền Nam - Đường đi đã tới
- Mẹ Việt Nam: Mẹ ta, Mẹ xinh đẹp - Mẹ chờ mong/Lúa mẹ - Mẹ đón cha về - Mẹ hỏi/Mẹ bỏ cuộc chơi - Mẹ trong lòng người đi - Mẹ trả lời/Mẹ hóa đá - Muốn về quê mẹ, Sông còn mải mê - Sông vùi chôn mẹ - Sông không đường về - Những dòng sông chia rẽ - Mẹ trùng dương - Biển Đông sóng gợn - Thênh thang thuyền về - Chớp bể mưa nguồn - Phù sa lớp lớp - Mẹ Việt Nam ơi/Việt Nam Việt Nam
[sửa] Phục hồi dân ca
- Dân ca miền xuôi: Lý cây đa, Qua cầu gió bay, Cây trúc xinh, Se chỉ luồn kim, Lý chim khuyên, Lý che hường, Hái hoa, Nước chẩy bon bon
- Dân ca miền núi: Ngày mùa, Chiêng trống cồng, Một mẹ trăm con, Hát đôi, Về đồng bằng, xuân trên buôn, Mẹ gọi con, Anh mau về
- Một bài dân ca nữa: Anh hỡi anh cứ về
[sửa] Tâm ca
- Tôi còn yêu tôi cứ yêu, Tôi ước mơ, Tiếng hát to, Ngồi gần nhau, Giọt mưa trên lá, Để lại cho em, Một cành củi khô, Kẻ thù ta, Ru người hấp hối, Tôi bảo tôi mãi mà tôi không nghe, Hát với tôi, Những gì sẽ đem theo về cõi chết
[sửa] Cho người trong cuộc chiến
- Huyền sử ca một người mang tên Quốc, Cùng nhau xây ấp mới, Khoác áo mầu đen, Hát hay không bằng hay hát, Bát cơm bát mồ hôi bát máu, Chiến sĩ gương mẫu
[sửa] Tâm phẫn ca
- Tôi không phải là gỗ đá, Nhân danh, Bi hài kịch, Đi vào quê hương, Người lính trẻ, Chuyện hai người lính, Bà mẹ phù sa
[sửa] Phong trào du ca
- Trả lại tôi tuổi trẻ, Du ca mùa xuân
[sửa] Cho cuộc đời
- Một ngày một đời, Cung chúc Việt Nam, Những điều tôi biết trong đời tôi, Kể chuyện đi xa, Dạ hành
[sửa] Cho cuộc tình
- Tình ca một mình: Nghìn trùng xa cách, Trả lại em yêu, Con đường tình ta đi, Nha Trang ngày về, Cỏ hồng, Tóc mai sợi vắn sợi dài, Mùa thu chết, Đừng bỏ em một mình, Giết người trong mộng, Nước mắt mùa thu
[sửa] Tình ca mùa hạ
- Phượng yêu, Ngày tháng hạ, Hạ hồng, Gió thoảng đêm hè
[sửa] Cho quê hương tồi tệ
- Thương ca chiến trường: Kỷ vật cho em, Khi tôi về, Tình khúc trên chiến trường tồi tệ, Thầm gọi tên nhau trên chiến trường tồi tệ, Tưởng như còn người yêu, Áo anh sứt chỉ đường tà
- Chiến ca: Điệp khúc trần thế vinh, Mười hai tháng anh đi, Chiến ca mùa hè
[sửa] Đạo ca
- Pháp thân - Đại nguyện - Chàng dũng sĩ và con ngựa vàng - Quán thế âm - Một cành mai - Lời ru, bú mớm, nâng niu - Qua suối mây hồng - Giọt chuông cam lộ - Chắp tay hoa - Tâm xuân
[sửa] Cho xã hội 1965
- Vỉa hè ca: Sức mấy mà buồn, Nghèo mà không ham, Ô kê Sa Lem, Ô kê nước mắm...
- Tục ca: Hát đối, Khỉ đột, Nhìn L^`, Cầm C.., Tình hôi, Gái lội qua khe, Mạo hóa, Úmbala ba ta cùng khỏi, Em đ"t, Chửi đổng.
[sửa] Cho tuổi thơ
- Kỷ niệm
- Bé ca: Ông trăng xuống chơi, Chú bé bắt được con công, Thằng Bờm, Bé bắt dế, Đưa bé đến trường, Đốt lá trên sân, Bé cây đàn ngôi nhà xanh đồi cỏ, Trong tiếng đàn của anh trong tiếng cười của em, Một con chim nhỏ trên cành yêu thương
[sửa] Cho tuổi ô mai
- Nữ ca: Tuổi mộng mơ, Tuổi ngọc, Tuổi hồng, Tuổi thần tiên, Tuổi sợ ma, Tuổi xuân, Tuổi vu vơ (Tuổi ngu ngơ), Tuổi bâng khuâng, Tuổi biết buồn, Ngày em hai mươi tuổi
[sửa] Cho hòa bình trong lòng người
- Bình ca: Bình ca một, Sống sót trở về, Dường như là hoà bình, Xin tình yêu giáng sinh, Xuân hiền, Ru mẹ, Lời chào bình yên, Giã từ ác mộng (Địa đàng tìm thấy), Chúa hoà bình, Ngày sẽ tới
[sửa] Mùa xuân 1975
- Những bài hát cuối cùng trên đất nước: Trên đồi xuân, Mừng xuân, Tình hờ, Yêu là chết trong lòng, Ta yêu em lầm lỡ, Nửa đoạn tình buồn, Những cuộc tình tan vỡ, Yêu tinh tình nữ, Chỉ chừng đó thôi, Con chim nhỏ trên cành yêu đương.
[sửa] Tị nạn ca - Phần 1
- Những bài hát tuyên ngôn: Ta chống cộng hay ta trốn cộng, Tháng tư đen, Người Việt cao quý, Có phải tôi là người quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh?
- Chủ đề quê hương: Nguyên vẹn hình hài, 1954 cha bỏ quê 1975 con bỏ nước, Bên bờ sông Seine ta ngồi ta khóc, Tiếng thời xưa, Thương nhớ Sài Gòn, Quê hương còn đó niềm vui, Giấc mơ khủng khiếp
- Chủ đề chia ly: Thư em đến, Ở Bên nhà em không còn đứng đợi chờ anh, Lấp biển vá trời
[sửa] Tị nạn ca - Phần 2
Ra với thế giới: Hát trên đường tạm dung, Ta là gió muôn phương, Bây giờ các ngài đâu
- Chủ đề vượt biển: Hát trên đường vượt biển, Biển máu
- Chủ đề phụ nữ: Giải thoát cho em, Trả lại chồng tôi, Lời người thiếu phụ Việt Nam, Người con gái Việt rời xa tổ quốc, Xin em giữ dùm anh
[sửa] Tị nạn ca - Phần 3
- Bài hát tâm tình: Chỉ còn nhau, Nghìn năm vẫn chưa quên, giờ thì em yêu, Con dế hát rong, Như là lòng tôi, Dấu chân trên tuyết, Tình nhân loại nghĩa đồng bào
- Hát cho mọi người: Hát cho người ở lại
[sửa] Ngục ca - Hoàng Cầm ca
- Ngục ca: Từ vượn lên người từ người xuống vượn, Đảng đầy tôi, Ngày 19 tháng 5, Xưa Lý Bạch, Những thiếu nhi điển hình chế độ, Tôi có thể hay là vô địch, Chuyện vĩ đại bi ai, Thấy ngay thủ phạm, Nước Đổng Trác Điêu Thuyền, Sẽ có một ngày, Cái lầm to thế kỷ, Đôi mắt Trương Chi, Vì ấu trĩ, Tia chớp này vĩ đại, Ôi mảnh đất hình hài chữ S, Đất nước tôi, Xin hãy giữ mầu trong trắng, Biết đến bao giờ lời thơ của tôi, Trong bóng đêm, Thời đại Hồ Chí Minh
- Hoàng Cầm ca: Tình cầm, Lá diêu bông, Qua vườn ổi, Cỗ bài tam cúc, Đạp lùi tinh tú, Trăm năm như một chiều
- Những bài ca tị nạn cuối cùng: Tình thu, Rồi đây anh sẽ đưa em về nhà, Bài ca dân chủ, Thông Điệp Máu, Bài Tử Sĩ Cho Người Quê Tôi
[sửa] Bầy chim bỏ xứ
- Bầy chim buồn bã - Chim quyên từ độ bỏ thôn Đoài - Bầy chim nhỏ bé - Con chích choè, Con chào mào - Chim bay từ đồng lúa phương nam - Một đôi phượng quý - Trên cành vàng, Con hoàng khuyên - Bầy chim hoài xứ - Én bay thấp, Én bay cao - Bầy chim một nhà - Lên rừng ba mươi Sáu thứ chim - Bầy chim nghìn xứ - Én bay dọc, Én bay ngang - Bầy chim một tổ - Bầy chim tỉnh giấc - Bầy chim huyền sử - Bầy chim hồi xứ - Chim quyên về đậu ở thôn Đoài
[sửa] Rong ca
- Người tình già trên đầu non - Hẹn em năm 2000 - Mẹ năm 2000 - Mộ phần thế kỷ - Ngụ ngôn mùa xuân - Nắng chiều rực rỡ - Bài hát nghìn thu - Trăng già - Ngựa hồng - Rong khúc
[sửa] Thiền ca
- Thinh không - Võng - Thế thôi - Không tên - Chiều - Xuân - Người tình - Răn - Thiên đường địa ngục - Nhân quả
[sửa] Trường ca Hàn Mặc Tử
- Phần 1 Tình quê: Tình quê - Đây thôn Vỹ Dạ - Đà Lạt trăng mờ
- Phần 2 Trăng sao: Trăng sao rớt rụng - Hồn là ai - Trút linh hồn
- Phần 3 Ave Maria: Lạy bà là đấng tinh truyền thánh vẹn - Ôi sứ thần thiên chúa Gabriel - Phượng Trì ôi Phượng Trì
[sửa] Thơ phổ nhạc
[sửa] Thi sĩ thời trước
- Lưu Trọng Lư: Tiếng thu, Vần thơ sầu rụng, Hoa rụng ven sông, Thú đau thương
- Thế Lữ: Tiếng sáo Thiên Thai
- Huy Cận: Ngậm ngùi
- Xuân Diệu: Mộ khúc
- Bích Khê: Tỳ bà
- Đoàn Phú Tứ: Mầu thời gian
- Hàn Mạc Tử: Trường ca Hàn Mạc Tử
- Nguyễn Du: Minh họa Kiều
[sửa] Thi sĩ thời sau
- Cung Trầm Tưởng: Mùa thu Paris, Tiễn em, Kiếp sau, Khoác kín (Phạm Duy đổi thành Chiều đông), Bên ni bên nớ, Về đây
- Phạm Thiên Thư: Ngày xưa Hoàng Thị, Em lễ chùa này, Đưa em tìm động hoa vàng, Gọi em là đóa hoa sầu, Huyền thoại trên một vùng biển
- Nguyễn Tất Nhiên: Thà là giọt mưa, Cô Bắc kỳ nho nhỏ, Anh vái trời, Hai năm tình lận đận, Em hiền như Masoeur, Hãy yêu chàng
[sửa] Các thi sĩ khác
- Lê Minh Ngọc: Tâm sự gửi về đâu
- Nhất Tuấn: Con quỳ lạy chúa trên trời
- Bình Nguyên Lộc: Quán bên đường
- Đỗ Quý Toàn: Mùa xuân yêu em
- Vũ Hữu Định: Còn chút gì để nhớ
- Nguyễn Tiến Cung: Rừng U Minh ta không thấy em
- Paul Verlaine: Thu ca điệu ru đơn
- Nguyễn Long: Anh yêu em vào cõi chết
- Du Tử Lê: Tình sầu, Kiếp sau xin giữ lại đời cho nhau
- Thanh Lan: Khúc lan sầu
- Kim Cương: Chiếc Bóng Bên Đường
- Phạm Văn Bình: Chuyện tình buồn
- Nguyễn Xuân Quang: Mây trôi trôi hết một đời
- Nguyên Sa: Vết sâu
- Phùng Quán: Lời mẹ dặn
- Đinh Tiến Luyện: Hoa Thông Thiên
- Quang Dũng: Tây tiến
- Lưu Trọng Văn: Về thôi
[sửa] Nhạc cảnh
Chức Nữ về trời, Tấm Cám
- Người đẹp trong tranh
- Thằng bờm
- Thị Mầu lên chùa
- Trên đồi xuân
- Chum vàng
- Mối tình sơn nữ
- Ba cô lên chùa
[sửa] Các sáng tác về sau
Một số sáng tác gần đây của nhạc sĩ Phạm Duy không có trong danh sách trên:
- Minh họa Kiều: Gồm 3 CD minh họa lại Truyện Kiều của Nguyễn Du.
- Minh họa Kiều 1: Rằng năm Gia tĩnh triều Minh, Ngày xuân con én đưa thoi, Thanh minh trong tiết thang ba, Ngổn ngang gò đống kéo lên, Sè sè nắm đất bên đường, Đau đớn thay phận đàn bà, Một vùng cỏ ấy ác tà, Dễ hay tình lại gặp tình, Gốc cây lại vạch một bài cỏ thi, Dùng dẳng nửa ở nửa về, Chàng Vân quen mặt ra chào, Tình trong như đã mặt ngoài còn e
- Minh họa Kiều 2: Người đâu gặp gỡ, Lơ thơ tơ liễu, Cách tường một buổi, Biết đâu hợp phố, Đá biết tuổi vàng, Hán Sở tranh hùng, Tư mã phượng cầu, Này khúc kê khang, Chiêu Quân, Càng tỏ hương nồng, Trăng thề còn đó
- Minh họa Kiều 3
- Nhục tình ca: Tình tự ca, Người yêu trong cánh tay.
- Hương ca: Trăm năm bến cũ, Vô thường, Tắm sông trăng, Ngày xưa một chuyện tình buồn, Ngựa biển, Hương rừng, Mơ dạo xuận Hà Nội
- Và một số ca khúc khác.
[sửa] Lời Việt Phạm Duy
Ngoài các sáng tác trên, Phạm Duy còn viết lời Việt cho nhiều ca khúc ngoại quốc.
[sửa] Nhạc bán cổ điển phương Tây
- Khúc hát thanh xuân, Chiều tà, Vũ nữ thân gầy, Dạ khúc, Dòng sông xanh, Trở về mái nhà xưa, Mối tình xa xưa, Sầu, Hắt hiu, Khúc ca ly biệt, Mơ mộng, Bi ca, Chủ nhật buồn, Tình vui, Ave Maria (của Schubert), Ave Maria (của Gounod)
[sửa] Dân ca thế giới
- Hoa đào ca, Nhớ thương, Bài ca cấy lúa, Nàng đi xem hội, Vai áo mầu xanh, Clê Măng Tin nơ (Clémentine), Tôi như đứa bé không mẹ, Chúa thương America, America tuyệt vời, Phép đến bên tôi, Chú bé đánh trống, Đêm âm thầm, Chúc mừng năm mới, Về đây đất mới
[sửa] Nhạc Pop Mỹ 1965-1970
- Lắng tai nghe, Vòng tay nữ sinh, Hai khía cạnh cuộc đời, Hè 42, Chuyện tình, Hỡi người tình Lara, If you go away, Cho đến khi lìa nhau, Không cần nói yêu, Mùa nắng đẹp, Chủ nhật tươi hồng, Đã chót yêu anh
[sửa] Nhạc Pop Pháp 1965-1970
- Khi xưa ta bé, Em đẹp nhất đêm nay, Những nụ tình xanh, Viễn du tưởng tượng, Cuộc phiêu lưu, Trong nắng trong gió, Nắng đã tắt, Giàn thiên lý đã xa, Tình yêu mùa đông, Chàng, Nàng, Chỉ cần một giọt lệ, Tiễn nơi phi trường, Gọi tên người yêu
[sửa] Nhạc Pop đầu 1970
- Cuộc tình tàn, Dắt nhau lên núi, Người đẹp, Còn đâu bạn vui, Xa em rồi, Cơn đau tình ái, Tình cho không, Tay trong tay, Ngày tân hôn, Ngày cưới em, Đừng phá vỡ ân tình, Căn nhà xinh, Tango xanh, Hoa tím ngời, Yêu người mãi mãi, Chút hờn ghen, Cánh buồm xưa, Bông hồng Trung Quốc
[sửa] Nhạc Disco, New Wave
- Leo lên xe này, Hỡi hỡi cô bé, Cô kia, Hận tình trong mưa, Twist nữa đi nào, Niềm vui của lứa đôi, Tân hôn kỷ niệm, Kiếp hoa bướm, Cầu cứu tình yêu, Thưa ba, Tình muộn, Tình đã len vào trái tim, Sau ngày cuối tuần, Thứ hai chán chường, Như ốc biển, Tìm kiếm người yêu, Nhốt trái tim, ôi cây đàn, Nhẩy điệu Raggae, Qua đi từng ngày, Mưa và nước mắt, Chúng ta ngày đó, Hoài niệm, Giã từ người yêu, Mong chàng đừng đi, Anh soi sáng đời em, Em, Nhưng tim thì vẫn trong ta
[sửa] Nhạc khiêu vũ
- Ngày nào, Paris âu yếm Paris, Nhớ lúc yêu nhau, Anh vẫn không đổi thay, Lại gần, Bên em, Chỉ có thế thôi, Người lìa xa, Người mà ra đi, Tuổi ba mươi ba, Hello, Mắt nâu đen, Hãy cố nhìn coi, Vỗ tay nào, Trong đêm, Giữa hai người tình, Tuổi đôi mươi, Người tinh cầu, Tình thiêng liêng, Yêu ta đềm êm
[sửa] Nhục tình ca
- Em-Ma-Nuen, Nơi trần thế, Biết yêu đương, Tình vẫn trói ta, Tình giang hồ, Cho cuộc tình tàn, Còn gì để lại không, Anh và em, Cõi tình, Tình đến rồi đi, Gìn giữ tình anh, Khói mờ mắt người yêu, Giữa hai người tình, Dứt tình, Khóc dòng sông ấy, Đừng nói đã quên, Nàng đã ra đi, Anh và tôi
[sửa] Nhạc Nhật
- Nắng xuân, Dòng sông quê cũ, Ru em qua đời, Tuổi xưa quê nhà, Người đi trong đêm, Người tình bên gối, Vĩnh biệt tình ta, Em như khăn hồng, Tôi yêu người hoài, Có bao giờ, Đời là ấm áp, Ngày ta còn bé, Đi trong mùa thu, Tình yêu đó, Nhớ thương mùa thu, Dòng sông tình ái, Giờ biệt ly, Thần ái tình, Sao đành quên nhau, Cô em nào kia, Nhớ ta thì về, Bơ vơ, Cơn mưa tình, Một trời cô đơn, Tiếng diều cao, Rong ruổi đường tình
[sửa] Nhạc quốc tế 1980
- Bơ vơ, Mất người yêu, Người từ đâu tới, Nhớ không, Cô em người Đức, Nắng thu, Về nơi đất hứa, Đường về đất thánh, Người ca nhi, Tình nghèo, Tình là bóng ma, Tình đã tàn rồi, Tình là hung ác, Tình điên, Tuyết rơi, Tiếng cười trong đêm, Yêu nhau, Đã lâu quá rồi, Yêu em rồi, Nhớ anh mà thôi
- Mối tình oan khiên, Không có em trên đời, Hãy tới bên anh, Đã yêu rồi hiểu chưa, Này em, Còn yêu nhau, Bãi cát yêu đương, Lữ khách trong mưa, Những ai âm thầm, Khi ai lìa xa ta, Đưa em về quê hương, thư gửi mẹ, Đại khúc tình yêu, Hạnh phúc đầu ngày, Nàng hồng hoa, Nói năng chi, Nô lệ ái tình, Nguyệt cầm tê tái, Cuộc tình đẹp nhất, Dấu vết thời gian, Người ru tình ta, Lá xanh mùa hè, Trái tim dễ vỡ, Sống trong mơ mộng
[sửa] Những năm đầu 1990
- Biển khơi tình yêu, Tình ca bất tận, Lại đây với em, Khóc cùng mưa, Bướm ma, Ta như tro bụi, Xanh như cánh đồng, Anh sẽ về, Chiều buồn, Trở về với em, Tình như lá rụng, Làm sao có em, Làm sao có anh, Cô em trong mơ, Điệu múa điên, Đừng dối gian, Tình ta, Người tình nơi nao, Tình như giấc mộng, Bước chân người tình
[sửa] Những năm cuối 1990
- Trái tim còn trinh, Người làm sáng tươi đời ta, Về đảo vắng, Dứt tình, Đi tìm tình yêu, Cuộc tình thế thôi, Cô đơn, Tình xưa nghĩa cũ, Tóc chị Hoài, Trái tim sắt đá, Người tình kiếp xưa, Nỗi sầu xa xứ, Mộng đẹp, Con chim non, Về quê xưa, Bọt nước chung tình, Bản Tango đầu, Bản Tango cuối, Xa cõi thiên đàng, Tình mãi ngu ngơ, Căn phòng xanh, Có thấy không em, Mặt trời tình yêu, Em đến rồi đi, Một chiều đông, Hồn ma tình cũ, Tìm nhau, Người tình đã tới, Dắt nhau lên đồi, Mộng huyền, Tình nồng đắm say, Valentine, Người tình bên nhau, Nước mắt khô, Hạnh phúc tình đôi
Sách báo Việt Nam, khi bàn về ca khúc, thường chỉ chú trọng vào lời ca mà ít để ý đến khía cạnh nhạc. Thậm chí nhiều người còn cho rằng không nên nói tới "kỹ thuật viết nhạc" vì quan niệm thông thường của người VN rằng nhạc là một cái gì thần bí huyền diệu từ trong tim vọt ra và hoàn toàn không cần tới bộ óc! Bài này xin đề cập tới nét nhạc trong vài ca khúc Phạm Duy:
Chiều về trên sông
Thuyền Viễn Xứ
Tình Hoài Hương
Mộng Du
Pháp Thân
Một Cành Mai
Đường Chiều Lá Rụng
Một giai điệu rất trang trọng, vừa mang vẻ cổ điển Tây Phương (và do đó được Duy Cường soạn cho giàn hoà tấu và Hoàng Ngọc-Tuấn soạn cho dương cầm), vừa có âm hưởng dân ca miền Nam, gợi được vẻ hùng vĩ bao la của dòng sông Cửu Long.
Phạm Duy viết rằng "Bài hát được soạn trên một âm giai mineure 6, coi như đó là sự thử thách của tôi trong việc dùng những âm giai khác với những âm giai tôi đã dùng từ trước tới nay". Âm giai "mineure 6" này thường được gọi là điệu thức Dorian và gần gũi với hệ ngũ cung "Oán" C Eb F G A của Việt Nam (chữ "Oán" để trong ngoặc là vì ở thời điểm này chưa có sự thống nhất về từ ngữ), nó giống như điệu thứ nhưng có một nốt 6 thăng rất đặc sắc có thể gây những cảm giác luyến tiếc hay hương vị dân ca.
PD có vẻ rất thích thú với âm điệu mới dùng thử. Hai câu đầu dùng hoàn toàn những nốt của ngũ cung Oán, dựa vào hai nốt gốc cách nhau một quãng 5 (C và G), theo cung cách metabole của dân ca mà ông đã quen thuộc:
Chiều buông trên giòng sông CỬU Long...
Về đâu ơi HÀNG cây gỗ rong...
và trong bài, ông đi qua đi lại giữa nốt 6 thứ của thể thứ và nốt 6 trưởng của thể Dorien, như trong hai câu:
Bởi vì chiều buồn chiều VỀ giòng sông
Bởi vì tình đời nào CHỈ thù oán...
Được thể, ông dổi qua đổi lại từ bực 3 từ 3 thứ qua trưởng rồi lại về 3 thứ:
Hãy cất tiếng ca cho ĐỜI thôi buồn... (3 trưởng)
Hãy cất tiếng ca cho LÒNG thôi khô héo... (3 trưởng)
Chiều buông trên GIÒNG sông cuốn mau...(3 thứ)
Những thay đổi rất tinh tế này khiến nhiều ca sĩ cũng như thính giả hay lầm lẫn nếu không để ý kỹ.
Hoàng Ngọc Tuấn, trong bản soạn cho piano cũng như trong nhạc đệm cho guitar trong CD Lệ Mai Hát Nhạc Phạm Duy, khéo léo dùng những chuỗi arpeggio gồm những nốt cách nhau bậc hai như nước chảy hay sóng gợn để gợi hình ảnh giòng sông cuồn cuộn chảy, và cũng gợi lên âm thanh của đàn tranh dân tộc.
Thuyền viễn xứ
theo thơ Huyền Chi
(trích từ "Nghệ Thuật phổ Thơ của Phạm Duy", Phạm Quang Tuấn)
Phạm Duy viết: "Trước khi gần một triệu người sẽ di cư vào miền Nam và ai cũng sẽ đều nhớ tới cảnh vật, sự việc và con người của thôn quê miền Bắc, tôi làm quen với một cô em bán vải ở Chợ Bến Thành tên là Huyền Chi. Cô ''Bắc Kỳ nho nhỏ'' này có một bài thơ nhớ quê hương cũ nhan đề THUYỀN VIỄN XỨ và đưa cho tôi phổ nhạc..." (Một Đời Nhìn Lại). Bài thơ nguyên tác là lục bát:
Lên khơi sương khói một chiều
Thùy dương rũ bóng tiêu điều ven sông
Lơ thơ rớt nhẹ men lòng
Mây trời pha ráng lụa hồng giăng ngang
Có thuyền viễn xứ Đà Giang
Một lần giạt bến qua ngàn lau thưa
Hò ơi tiếng hát ngàn xưa
Ngân lên trong một chiều mưa xứ người
Đường về cố lý xa xôi
Nhịp sầu lỡ bước tiếng đời hoang mang
...
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ lên đường lại đi
nhưng Phạm Duy đã sửa đổi để tránh nhịp lục bát quá chẵn và đều đặn:
Chiều nay sương khói lên khơi
Thùy dương rũ sóng tơi bời
Làn mây hồng xa ráng trời
Bến Ðà Giang, thuyền qua xứ người...
Ðể biểu diễn một tình cảm hoài hương êm nhẹ, Phạm Duy dùng một tiết tấu nhẹ nhàng và một giai điệu rất êm. Ông cho vào những accidentals như Mi (chú ý: đoạn này người viết dùng ký hiệu tonic sol-fa, tức là Do là chủ âm) ở chữ thứ 3 ("sương") (thay vì Mi giảm của thể minor), Sol giảm ở chữ thứ 5 ("lên"), gây ra những bán cung ẩn (implied) hoặc hiện để làm tăng vẻ bàng bạc êm dịu đó. Cấu trúc của giòng nhạc là một cấu trúc rất cổ điển, rất duyên dáng, bốn câu đầu uyển chuyển đi lên từ từ rồi rút xuống. Đường giai điệu (melodic contour) này được nhắc lại và nhấn mạnh thêm ở bốn câu sau, nghĩa là đi lên cao hơn, mạnh hơn trước khi lại rút xuống, như sóng thuỷ triều hay sóng trong lòng người nhớ quê hương:
Thuyền ơi viễn xứ xa xôi
Một lần qua giạt bến lau thưa
Hò ơi giọng hát thiên thu
Suối nguồn xa vắng, chiều mưa ngàn về
Sang đoạn sau, cái contour này lại mạnh hơn nữa khi giòng nhạc lên cao vút và đổi qua major:
Nhìn về đường cố lý, cố lý xa xôi
Ðời nhịp sầu lỡ bước, bước hoang mang rồi
Quay lại hướng làng
Ðà Giang lệ ướt nồng
và cuối cùng dừng lại ở âm Do cao:
Mẹ già ngồi im bóng
Mái tóc sương mong con bạc lòng
trước khi trầm lắng xuống và trở về giai điệu đầu tiên:
Chiều nay gửi tới quê xưa
Biết là bao thương nhớ cho vừa
Trời cao chìm rơi xuống đời
Biết là bao sầu trên xứ người
Mịt mù sương khói lên hương
Lũ thùy dương rũ bóng ven sông
Chiều nay trên bến muôn phương
Có thuyền viễn xứ nhổ neo lên đường...
Phạm Duy viết:
Phải mất ngót nghét gần hai năm (51-52) để tính chuyện vào thành và để tổ chức đời sống gia đình tại Saigon cho nên tôi không sáng tác gì cả, ngoài việc phổ câu ca dao thành bài dân ca là NỤ TẦM XUÂN, và phổ bài thơ TIẾNG SÁO THIÊN THAI của Thế Lữ thành một bản tango, hai bài này được soạn ra để đáp ứng nhu cầu hát đôi (duo) của chị em Thái Thanh Thái Hằng. Tôi cũng còn bận bịu trong việc tổ chức cho ban Thăng Long đi hát tại các Ðài Phát Thanh, thu thanh tại các hãng dĩa, phụ diễn tại các rạp chiếu bóng và trình diễn tại những buổi Ðại Nhạc Hội đầu tiên của miền Nam.
Lúc đó chưa phải là lúc gần một triệu người rời bỏ miền Bắc vào Nam sau Hội Nghị Genève, nhưng tôi đang là một nghệ sĩ vừa phải xa miền quê ''Bắc Kỳ'' và đang nhớ cảnh quê cũ cho nên khi bắt đầu sáng tác lại, tôi soạn bài TÌNH HOÀI HƯƠNG. Tôi sẽ không phải là người độc nhất soạn những bài hát nhớ quê hương khi vẫn đang sống ở quê hương. Cuộc di cư vào Nam trong năm 1954 của một triệu người khiến cho lũ nhạc sĩ chúng tôi lúc đó soạn nhiều bài hát về quê hương miền Bắc, ví dụ GIẤC MƠ HỒI HƯƠNG (Vũ Thành), HƯỚNG VỀ HÀ NỘI (Hoàng Dương) v.v... Trong Tân Nhạc đã khởi sự loạt bài về sau được gọi là tình ca quê hương. Bài TÌNH HOÀI HƯƠNG (và nhất là bài TÌNH CA) có thể được coi là bài khởi xướng cho xu hướng này...
Về mặt nhạc lý, bài này khéo léo ở chỗ dùng một câu nhạc
Quê hương tôi,
Có con sông đào xinh xắn...
Nước tuôn trên đồng vuông vắn
Lúa thơm cho đủ hai mùa
Dân trong làng trời về khuya vẳng tiếng lúa đê mê
rồi chuyển giọng thứ qua giọng trưởng và chuyển tons (modulate) nhiều lần trước khi trở lai chủ âm nguyên thủy. Kể rõ ra thì là từ Re thứ sang Fa trưởng, chuyển qua La trưởng, rồi về Re thứ là ton mở đầu). Kết cấu này rất "cổ điển" và chặt chẽ, tuy PD áp dụng vào một giai điệu mang nhiều tính cách dân ca VN. Điều này chứng tỏ Phạm Duy nắm rất vững căn bản nhạc lý viết ca khúc chứ không phải chỉ là nhà viết nhạc "ngoại đạo" như nhiều người (và đôi khi chính ông) vẫn thường nói!
Xen vào điệu chính đầy êm dịu đó là những đoạn nhạc nhiều thay đổi cá tính: một tiếng sáo mở đầu rất phóng khoáng, một đoạn giữa nhịp nhàng ("Ai về, về có nhớ ..."), một đoạn kết đầy sôi nổi ("Tình hoài hương!...")
Bản nhạc này dùng nhiều những quãng 4, 5, 2 (Fa, Sol, Re) và ít những quãng 3, 6, 7 (Mi, La, Si) và nhiều quãng nhảy rất xa. Ngay câu đầu vào
Đêm đêm người mở lòng ra
đã nhảy qua những quãng 5 cao, 1 (chủ âm), 5 thấp, 1, 5 cao.
Cách viết này khiến điệu nhạc có một vẻ ma quái, siêu thực, những âm hưởng "rỗng" (theo nghĩa hoà âm), như từ trong đêm ẩn hiện (*), giai điệu nhảy nhót lên xuống, nhiều khi chướng chướng:
Ôm ta trong cánh tay ngà
rất thích hợp với những ý "mộng du", "ta đi bằng một sợi tơ...", "nâng ta trong lưới mơ hồ". Thỉnh thoảng giai điệu (và lời ca) như vút lên không gian xa thẳm:
...trôi xuôi theo giòng tinh tú
u... ú...
làm tăng ấn tượng siêu thực.
(*) Trong nhạc lý, các quãng 4, 5, 2 đếm từ nốt chủ âm cho một cảm tưởng "khô", "đen trắng", các quãng 3, 6, 7 cho một cảm giác dịu, màu sắc. Vì điệu nhạc này thoạt nghe có vẻ "khô" và chướng nên hầu hết thính giả khó cảm nhận ngay được.
(Trích từ "Nghệ Thuật phổ Thơ của Phạm Duy", Phạm Quang Tuấn)
Bài Pháp Thân dùng âm điệu, nhất là hợp âm, để diễn tả những ý tưởng trừu tượng. Phạm Thiên Thư, cũng như Phạm Duy, nổi tiếng nhất trong quần chúng là nhờ những bài tình ca như "Ngày Xưa Hoàng Thị", nhưng về giá trị nghệ thuật thì phải kể đến những bài Ðạo Ca của hai tác giả này.
Ðoạn sau này dựa theo hai nhà nhạc học Etienne Gauthier và Hoàng Ngọc Tuấn.
Ðạo ca là thơ của Phạm Thiên Thư, một thầy tu kiêm thi sĩ (hoặc thi sĩ đội lốt thầy tu), do Phạm Duy phổ nhạc. Chữ "Ðạo" không có nghĩa là tôn giáo, mà có nghĩa là con đường. Tuy nhiên Ðạo không phải chỉ có nghĩa là con đường của Lão. Ý nghĩa chữ Ðạo đã rõ ràng trong toàn thể mười bài Ðạo Ca và thâu tóm trong bài một: Mình với ta tuy hai mà một, thì tại sao còn phân biệt Lão với Phật hay với gì khác?
Ðạo Ca không phải là một bài học triết lý. Ðã rất nhiều tác phẩm văn học nói về những ý tưởng trong Ðạo Ca một cách sâu sắc hơn. Cái đặc biệt của Ðạo Ca là sự cộng tác mật thiết giữa hai tác giả, đưa đến một sự đồng nhất chưa từng có giữa thơ và nhạc. Về nhạc lý, điểm đặc sắc nhất của Ðạo Ca là trong vài bài nhạc sĩ đã xây dựng toàn bản nhạc căn cứ từ hòa âm (harmony) chứ không phải là từ sự ngân nga câu thơ như lối làm nhạc của hầu hết các nhạc sĩ VN, ngày xưa cũng như bây giờ.
Xưa em là kiếp chim
chết mục trên đưng nhỏ
Anh làm cội băng mai,
để tang em, chờ mấy thuở
Phạm Thiên Thư/Phạm Duy đặt tên tựa cho Ðạo Ca là "Trong thành vách sương mù" - một người đi tìm chân lý, để thoát ra khỏi đám sương mù tối ám. Chân lý có thể ở rất gần ta nhưng ta không thấy. Bài ca khởi đầu ở G trưởng, nhưng ngay cuối câu đầu đã xuất hiện nốt E giảm nghe là lạ - giọng C thứ chăng? Trở lại G trưởng, nhưng rồi lại hiện ra một cung B giảm không thuộc giọng trưởng. Câu nhạc nghe khúc khuỷu, lần mò, nhiều lần như muốn đổi mà lại trở về chỗ cũ, chân lý như sát gần nhưng rồi lại xa vời:
Xưa em làm kiếp lá,
rụng xuống lòng suối thu
Anh làm mưa tháng bẩy,
đôi hàng lệ ướt tương tư...
Xưa em làm kiếp hoa,
chết rũ trong nội cỏ
Anh làm giọt sương sa,
sầu thương em, lệ anh nhỏ...
Xưa em làm kiếp gió
hay có làm kiếp mây
Anh làm chim chích choè,
Trên đầu gậy anh hát ca...
Nhưng rồi, bỗng như một tia mặt trời lóe sáng, "thành vách sương mù" rẽ ra và chân lý huy hoàng hiện ra trong một giọng E giảm trưởng thật bất ngờ mà cũng thật hợp lý, thật xa lạ mà cũng thật gần gũi (vì từ hợp âm G trưởng tới hợp âm E giảm trưởng chỉ đổi có hai bán cung).
A ha, ta tuy một mà hai!
A ha, ta tuy hai mà một!
A ha, ta tuy một mà hai!
Chân lý ở ngay cạnh ta mà ta không biết!
Một Cành Mai (Đạo Ca 5)
thơ Phạm Thiên Thư
Bài này tương tự Pháp Thân ở chỗ sức diễn tả của điệu nhạc dựng trên cấu trúc hợp âm. Tuy nhiên, cấu trúc hợp âm của MCM rất giản dị và dễ đi thẳng vào lòng người (kể cả những người không biết gì về hòa âm!): nó là một chuỗi hợp âm đi từ hợp âm chủ (bậc I) lên dần: bậc II, bậc III, bậc IV, bậc V, bậc VI, bậc VII (tức là đủ các bậc trong thang âm thất cung), nhưng rồi, thay vì hoàn tất vòng tròn bằng bậc VIII (tức là trở lại bậc I), Phạm Duy nhảy lên bậc III. Nhảy như vậy vừa bất ngờ mà vừa rất êm tai, vì trong nhạc lý, đó là một "perfect cadence", một kết thúc hòan hảo để chuyển từ giọng Fa sang giọng La.
Khéo léo hơn nữa, Phạm Duy tạo ra hai điệu hòan toàn khác nhau nhưng cùng nằm lên trên sườn hòa âm đó. Giai điệu 1:
Em bé khóc đòi cha
Như mẹ khóc đòi con
...
vưà uốn lượn vừ đi xuống, trừ nốt cuối. Giai điệu 2:
Ù ù u u u ....
thì giản dị lên dần theo hòa âm.
ĐCLR ít khi được hát và được nghe, vì nó đòi hỏi nhiều ở người nghệ sĩ lẫn thính giả.
Phạm Duy viết rằng
"bài ÐƯỜNG CHIỀU LÁ RỤNG rất khó hát so với các ca khúc khác của tôi, nét nhạc và chuyển điệu của nó khá mới lạ, cho tới nay, chỉ có Thái Thanh, Kim Tước và Quỳnh Giao hát nó mà thôi..." (Phạm Duy - Một Đời Nhìn Lại)
ĐCLR xử dụng nhiều điệu thức khác nhau trong đó có "hệ ngũ cung Oán" của VN (La, Do, Re, Mi, Fa thăng), tương tự với điệu thức Dorien của Âu châu (La - Si - Do - Re - Mi - Fa sharp - Sol). Điệu thức này thường có một vẻ vương vấn nuối tiếc rất đặc sắc.
Tuy nhiên, PD không giữ nguyên điệu thức Dorien mà chuyển qua chuyển lại điệu thức thứ một cách đột ngột để gây những màu sắc lung linh thay đổi:
Lá vàng êm, lá vàng êm,
như mũi kim mềm sẽ khâu liền kín khung cửa tình duyên...
(âm giai thứ).
Lá vàng khô, lá vàng khô
như nét môi già đã nhăn chờ lên nẻo đường băng giá...
(âm giai Oán-Dorien)
Ngoài những điệu thức thay đổi, một điều nữa làm bài này khó hát là vì PD dùng nhiều quãng 5 giảm (tritone), nhiều khi thành từng chuỗi, rất khó hát nếu ca sĩ không tập luyện:
Hoàng hôn MỞ LỐI,
Rừng khô THỞ KHÓI,
Trời như BIỂN CHÓI
...
CHIỀU ÔM vòng tay,
MỘT BÓ thuyền say,
THUYỀN LƠ lửng mãi
Cách viết này không có trong ca khúc Việt Nam nào khác ở thời đó (các thầy dạy nhạc và sách dạy viết ca khúc thời đó đều khuyên ta nên tránh quãng 5 giảm) nhưng những âm điệu đó khiến cho bài này trở thành rất lạ tai, đặc sắc.
Ngoài ra còn có những bước nhảy vọt lên những nốt rất cao khiến ca sĩ phải vận dụng kỹ thuật xướng âm để khắc phục:
Để NHỮNG lệ buồn CÁNH khô...
Chờ ĐẾN một trận GIÓ mưa...
Về mặt trình diễn, ĐCLR cần một lối trình diễn tự do phóng khoáng, nhiều ngẫu hứng của người hát lẫn người đàn, điều này càng khiến bài này rất khó hát khó thâu, đòi hỏi khả năng ứng biến giỏi ở người đệm đàn.
Nhưng, phần thưởng của người nghệ sĩ khắc phục được những khó khăn kỹ thuật của ĐCLR là những cơ hội diễn tả một điệu nhạc rất say sưa, có kịch tính, nhiều tình cảm sâu sắc nhưng không ướt át.
Về ca từ, PD dùng những từ ngữ và hình ảnh rất nhiều thi tính
...những lệ buồn cánh khô
rơi rớt từ một cõi mơ,
nghe đất gọi về tiếng ru hững hờ...
nhiều chỗ phảng phất như lời ca của Trịnh Công Sơn về sau này.
Nói tóm lại, khi viết ĐCLR, tác giả đã gạt bỏ hết mọi ý định chiều lòng quần chúng và đã đặt nghệ thuật lên trên hết, để làm một món quà tặng đặc biệt cho thiểu số sành điệu.
Phạm Quang Tuấn 11.2003
phamquangtuan@optusnet.com.au
Viết trong dịp ra mắt CD Lệ Mai hát nhạc Phạm Duy (Sydney, 2003) với những ca khúc nói trên.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét