name="movie" value="http://nghenhac.info/AudioPlayer/AudioPlayer_Single.swf" />

Snow Effect

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2010

Hồn tết Việt


Những sửa soạn trước tết
Tết đến sau ngày ba mươi tháng chạp, nhưng ở nhà quê ngay từ đầu tháng này người ta đã thấy cái không khí của Tết.
Mọi người đã nghĩ đến những hàng Tết và những phiên chợ Tết. Những phiên chợ của tháng cuối năm này như nhộn nhịp hơn với hàng lá dong để gói bánh chưng, với hàng bánh ngũ sắc, hàng đường, hàng mật nhiều hơn những phiên chợ quanh năm. Rồi ngày Tết càng gần đến, chợ làng càng tấp nập và thêm nhiều hàng mới: hàng tranh pháo, hàng bánh chưng, hàng hoa tươi, hàng đồ mã với mũ ông công và đặc biệt nhất là hàng ông đồ bán chữ...
Ngày Tết càng gần, cảnh chợ Tết càng tưng bừng.
Đây là những ngày người ta sửa soạn Tết và người ta nghĩ đến bổn phận của mọi người trong ngày Tết.
Người ta đong sẵn gạo nếp để gói bánh chưng, người ta mua sẵn lá dong mang về hoặc đem luộc rồi quấn vào các cột nhà, hoặc cứ để nguyên để khi gói bánh có được màu xanh của lá.
Người ta mua vàng hương để ngày Tết cúng tổ tiên, và những người thuộc ngành thứ phải mua đồ lễ trong đó có vàng hương để gần Tết tới nhà gia trưởng.
Bố mẹ phải lo Tết thầy học cho con. Các con bệnh cũng phải sắm cái gì để biếu Tết ông lang.
Lại bánh mứt ngày Tết, mỗi thứ mua sẵn một ít trước là để cúng tổ tiên, sau là để gia đình cùng thưởng thức lúc đầu xuân.
Các vị gia trưởng phải lo đến bàn thờ gia tiên. Phải lau chùi quét dọn cho sạch sẽ. Những đồ thờ, bình hương đỉnh đồng, đài rượu, đài đèn đều được đem đánh bóng nhoáng.
Những đôi liễn mới được treo ra, những đôi câu đối đỏ được dán lên cột. Lại còn hoa Tết, lại cành đào ngày Tết để trừ tà.
Những anh chàng rể cũng không quên biếu Tết bố mẹ vợ, nhất là những chàng rể chưa cưới.
Người ta bận rộn, người ta nghĩ đến Tết và những ngày trước Tết mấy hôm, nhà nhà trong làng bắt đầu gói bánh chưng. Xóm này, xóm kia tiếng lợn bị chọc tiết kêu eng éc.
Nhà quê có tục đụng lợn để gói bánh, gói giò ngày Tết. Ba bốn gia đình chung nhau tiền mua một con lợn, ngày gần Tết đến đem mổ thịt chia nhau lấy thịt gói bánh, giã giò và làm cỗ Tết.
Lại có những người chơi hội (họ, hụi) giò, bánh chưng ngày Tết. Mươi mười hai người, thường là các bà, họp nhau, một người đứng chủ hộ, những người kia đóng tiền cho chủ hội mỗi tháng một số tiền. Người chủ hội dùng tiền này sinh lời rồi Tết đến, cho mua gạo lợn mổ thịt gói bánh giã giò trao cho các chân hội viên. Số tiền đóng thường cũng không nhiều nên số bánh chưng, giò mỗi người chỉ có vào khoảng hai chục chiếc bánh và hai cân giò. Lối chơi hội giò bánh như trên rất bành trướng tại các làng quê, nhất là ở những làng thợ thuyền và buôn bán, vì với hội giò bánh này, ngày Tết đến người ta yên trí có bánh chưng với giò.
Việc sửa soạn Tết cho đến ngày ba mươi Tết vẫn chưa xong, vì còn nhiều gia đình, đêm hôm ba mươi còn đang ninh nồi bánh chưng sôi sình sịch.
• Ăn Tết là một cái thú. Mặc dầu có những người khổ sở lắm. Vì Tết, khi năm cùng tháng tận đã phải chạy ngược chạy xuôi, lạy van hết chỗ này đến cửa khác để vay chỗ nọ mà đập trả chỗ kia cho đến lúc giao thừa mới yên tâm được mà tết với nhất. Lại càng có nhiều người công nợ quá rồi, chạy không đâu tiền trả thì đành liều trốn nợ, đến đêm ba mươi, mới dám lò dò về nhà, thấy khách nợ không còn ai thì bấy giờ mới đóng cửa lại để lo thu dọn mà ăn Tết.
Cái cửa đêm ba mươi đóng lại như thế là một cái gì yên trí lắm đối với con nợ khỏi bị réo róc, chẳng được lâu thì ít ra cũng được đến ngày hạ cây nêu. Bởi trong mấy ngày Tết, nếu cho người ta chẳng kiêng cho mình thì cũng phải kiêng cho người ta để đừng to tiếng đừng giận hờn khiến giông cả năm.
Kể ra nếu từ xưa không có lối kiêng cữ như thế thì có lẽ bây giờ chúng ta cũng nên bày ra cho có để người ta vui sống với nhau, ít nào cũng được lấy năm ba ngày trong một năm, còn hơn là không có ngày nào cả.
Thú nhất và buồn cười nhất là vừa mới chiều ba mươi người ta đã mắng nhau như tát nước vào mặt, mà sáng mồng một ra đường gặp nhau, đã lại nhoẻn miệng cười chúc nhau năm mới làm ăn phát tài bằng năm bằng mười năm ngoái. Bao nhiêu công nợ, bao nhiêu điều ong tiếng ve, bao nhiêu giận hờn oán ghét, đến hết ngày ba mươi là hết đấy. Lại cho đến khai hạ mới là bắt đầu lại cuộc sống bình thường, để bắt đầu nói chuyện lại về những vụ đó.
Cái khoảng mấy ngày Tết là cái khoảng mà người ta thấy hoàn toàn nhẹ nhõm để vui với gia đình, để ăn mà biết là ăn ngon, mặc mà biết là mặc đẹp.
Có những đứa con hư, đi lang bạt quanh năm suốt tháng, rồi làm bậy bạ, không ai còn muốn nhìn mặt nó nữa, nhưng đến đêm ba mươi Tết, nó biết lò dò vác mặt nó về, thì người ta cũng thôi, đánh chữ đại xá cho nó, để nó được ăn Tết, xong rồi mới lại đuổi cổ đi. Không khí bao dung trong gia đình Việt Nam thật là một không khí kỳ lạ.
Chẳng rõ như vậy có phải vì ảnh hưởng của những sự kiêng cữ, không thích thấy những gì gì là nặng tay nặng chân, nặng mày nặng mặt, và không muốn nhìn những gì là đổ vỡ, hư hỏng, xấu xa? Để tất cả một xã hội nhìn nhận ngày Tết là cái gì khác hẳn với những ngày thường trong đó chỉ toàn là tốt đẹp và vui vẻ.
Từ những người tài cao học rộng, đến những người chẳng biết một chữ gì, người nào cũng cảm thấy như mình vứt bỏ một chuỗi ngày cũ kỹ đi, để bắt đầu lần những chuỗi ngày mới, với không biết bao nhiêu hy vọng không biết bao nhiêu yêu đời. Dẫu cho có đứa con đau yếu vạn bất đắc dĩ người ta mới phải chạy tìm ông lang, còn có thể nấn ná được thì người ta cũng để qua ngày qua ngày mồng một trong khi gia đìng thỉnh thoảng ghé vào thăm nom, còn bên nhà ngoài tiếp khách, người ta cũng vẫn tươi cười như không có điều gì âu lo trong bụng.
Người ta nén bỏ những gì buồn phiền, để không làm buồn phiền sang những người khác trong dịp tết. Người ta dấu kín những đau khổ để không làm mất thú vui của người khác trong dịp vui ấy. Dù ai muốn hiểu thế nào đi nữa, tôi cũng vẫn phải nói rằng: đó mới là những thái độ và cử chỉ văn minh.
Bởi vậy ngày tết là một ngày thiêng liêng lắm. Một người sắp chết, hấp hối thêm một giờ nữa sau giờ giao thừa là đã tính thêm một tuổi nữa. Một đứa trẻ xổ ra trước giờ giao thừa một giờ sang đến ngày mồng một là đã bắt đầu lên hai tuổi. Không có ngày nào giờ nào khác trong năm lại có năng lực khiến toàn thể mọi người phân công nhận sự kỳ dị như vậy.
Sự kỳ dị này đã đến một mức không ngờ nữa là cả guồng máy xã hội đã như ngưng cả lại cùng với bầu không khí, cũng như đọng cả lại mà chờ đón buổi giao thừa. Việc gì quan trọng mấy cũng nghỉ hết. Từ trong triều đình đến các tỉnh đường, huyện đường, mọi hoạt động ở mọi ngành đều nhất loạt là nghỉ hết. Cho đến các đền chùa miếu mạo cũng chỉ cúng một lần chót, lần tất niên để rồi nghỉ qua năm mới. Kiện cáo gì cũng nghỉ, giao thiệp gì cũng nghỉ, học hành gì cũng nghỉ, làm ăn sắp đặt gì cũng nghỉ, tính chuyện đi xa đi gần gì cũng nghỉ. Việc thật hết sức cần, nhưng nếu không phải là cháy nhà, là giặc giã cướp bóc, giết người hại của, thì dầu phải làm trong ngày Tết kiếm được nhiều tiền, người ta cũng không bao giờ làm.
Hỏi tại sao thì chẳng ai cần biết rõ hơn, mà chỉ nhận rằng thế đấy, thế mới là Tết. Cho đến cầm cái chổi quét rác trong nhà, người ta cũng không quét nữa, để cho cái ý niệm nghỉ ngơi thật hoàn toàn là nghỉ ngơi, không làm gì cả, cho cả tâm hồn lẫn thể xác hòa đồng với cảnh sắc xuân tươi mà mới hết cả lại.
Thật cứ y như một tấm lụa nhuộm màu, phải lắng lại trong một thời gian rống rỗng cho màu kịp ăn vào đến trong lòng của từng tơ lụa.
Ngày Tết, với những màu nhân tạo của cây cỏ hoa lá, với những màu nhân tạo của nhà cửa đồ đạc, quần áo món ăn, quả là nhuộm thắm lại tất cả lòng người đến nét mặt của mỗi người nữa.
Cho nên người Việt Nam chúng ta đã ăn Tết mãi và sẽ còn ăn tết mãi như một cái thú mà Trời đã dành riêng cho kẻ biết thưởng thức cái giờ phút đẹp nhất của vũ trụ trong một năm vậy.

Nói đến Tết, không thể bỏ qua tranh Tết được, tranh Tết không phải chỉ riêng trẻ con chơi, người lớn cũng chơi tranh Tết, duy tranh Tết của người lớn có khác với tranh Tết trẻ con.
Tranh tết người lớn
Để đón xuân về, người ta trang hoàng nhà cửa, và trong những đồ trang trí phải kể tranh Tết. Đây là những tranh nhắc lại những điền tích trong truyện cổ, đề cao tinh thần độc lập cũng như nền đạo đức của phương Đông.
Có người treo giữa phòng khách một bức tranh Anh hùng độc lập tượng trưng bởi một con ó đậu trên mỏm đá cao.
Hoặc có người treo trên vách bốn bức tranh về bốn mùa, tượng trưng bởi bốn loại cây có hoa hay không có hoa: mai, lan, cúc, trúc. Cũng có khi là bức tranh trúc tước vẽ con chim sẻ đậu trên cành trúc, hoặc bức tranh Lã Vọng, vẽ Khương Thái Công câu cá ở Tây Kỳ.
Những tranh trên ta thường thấy ở những gia đình trí thức, còn ở những gia đình bình dân đó là những bức tranh vẽ những cảnh trong các truyện Tàu: Tang Quác, Chinh Đông, Chinh Tây... hoặc cũng có khi là những cảnh trong các truyện Việt Nam: Thạch Sanh, Nhị Độ Mai, Quan Âm Thị Kính...
Cũng có khi là những tranh vẽ những đoạn sử của dân tộc: Phù Đổng Thiên Vương đổi giặc Ân, An Dương Vương và truyện Mỵ Châu, Trọng Thủy, Sơn Tinh và Thủy Tinh v.v...
Tất cả những bức tranh giới bình dân ưa thích thường gồm từng bộ, mỗi bộ bốn tờ và một tờ có ba hình ảnh, tổng cộng mỗi bộ mười hai hình ảnh.
Tại những gia đình khá giả và trí thức trong làng, những tranh treo ngày Tết thường là những tranh Tàu, nghĩa là tranh do người Tàu sản xuất và bán tại Việt Nam, có khi là một bức như bức tranh Lã Vọng, hoặc bức tranh Anh hùng độc lập, có khi thành bốn bức, ta gọi là tứ bình. Bốn bức này có thể tả cảnh bốn mùa như mai, lan, cúc, trúc hay vẽ về nghề nghiệp như ngư, tiều, canh, độc...
Có nhà, thay vì tranh Tàu, treo những bức tranh cổ cũng những đề tài trên, những bức tranh cổ này có thể do người Việt Nam vẽ, có thể do người Tàu vẽ, và là của gia truyền của từng gia đình. Những bức tranh cổ gia truyền này, ngày thường được gói cất đi, chỉ được đem treo vào dịp Tết, hoặc vào những dịp chủ nhân tiếp khách lạ.
Lại có người trong giới trí thức không ưa treo tranh Tàu, ngày Tết cũng treo tranh, nhưng đây là những tranh in mộc bản, sản xuất tại Việt Nam, cũng với những đề tài trên.
Tranh Tết của những gia đình bình dân cũng có hai loại: tranh Tàu và tranh bản xứ. Tranh Tàu in trên giấy trắng với kỹ thuật tinh vi hơn và chỉ vẽ lại những cảnh nhắc trong truyện Tàu. Tranh bản xứ in mộc bản, nét vẽ trông thô sơ, cũng vẽ những cảnh trong truyện Tàu, nhưng bên những bức tranh này, có rất nhiều những bộ tranh vẽ những sự tích ghi trong các truyện Việt Nam.
Nhiều người dân quê tinh thần quốc gia rất mạnh, ngày Tết chỉ chơi tranh Việt Nam với những bức vẽ về lịch sử Việt Nam hoặc về các sự tích trong các truyện Việt Nam.
Tranh trẻ em
Đây là những bức tranh đặc biệt Việt Nam, nhắc lại những sinh hoạt hàng ngày của dân quê Việt Nam, hoặc đôi khi những truyện cổ tích Việt Nam, hoặc những điều người Việt Nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau.
Nhiều tác giả ngoại quốc đã nhắc tới loại tranh này với những sự phân tích tâm lý rất tỉ mỉ về người Việt Nam.
Tiến lộc
Những tranh trẻ em này, thường chỉ những trẻ em nhà quê ưa thích, các trẻ em ở thành thị, bị ảnh hưởng bởi sự chung đụng với ngoại quốc, nhất là với Tây phương dưới thời Pháp thuộc, không chơi tranh Tết hoặc nếu có chơi tranh Tết thì đây cũng là những bức hình cắt trong sách báo Tây phương.
Vả chăng ở thành thị các em cũng không có chỗ nào để dán tranh, không như các em ở nhà quê, ngày Tết đến, ngoại trừ nhà thờ và phòng khách của người lớn, các nơi tường vách khác đều là các chỗ đề các em dán tranh.

Bước chân vào một nhà dân quê trước hoặc sau Tết ít ngày, mới đến cổng ta thấy ngay hai bức tranh đối nhau:
Hai bức tranh này là hai bức tranh Tiến tài, Tiến lộc vẽ hình hai vị thần mũ áo triều phục văn quan, một vị mang biển Tiến tài, một vị mang biển Tiến lộc. Tục cho rằng dán hai bức tranh này ngoài cổng, tài lộc sẽ kéo vào trong nhà, và với năm mới, hai vị thần Tiến Tài, Tiến Lộc sẽ mang sự thịnh vượng lại.
Cũng có nhà dán ngoài cổng không phải hai bức tranh Tiến Tài, Tiến Lộc, mà là hai bức tranh Vũ Đinh Thiên Ái. Đây là hai vị thần y phục vô tướng, mỗi vị vác một thanh long đao. Hai vị thần này trừ tà ma quỷ quái. Người ta dán hai bức tranh này, ngoài cửa để ma quỷ không dám vào trong nhà quấy nhiễu.
Vào trong nhà, trên các vách tường có thể, ta thấy la liệt những tranh:
Tranh đàn gà mẹ con, tượng trưng cho sự phúc đức đa đinh. Và đây cũng nói lên một cảnh sinh hoạt của người dân đồng quê: nuôi gà. Bức tranh lai còn tượng trưng cho tình mẹ thương con, con gà mái mẹ ấp ủ đàn con, sẽ vì đàn con mà chống lại một bạo lực.
Tranh con gà trống. Con gà trống tượng trưng cho sự bất khuất không sợ kẻ thù, đồng thời nó cũng biểu hiện một đức tính cao quý là chữ Tín: hàng ngày nó gáy canh không bao giờ sai. Gà trống là bạn của dân quê, nó đánh thức mọi người dậy đúng giờ đúng khắc để lo việc làm ăn.
Tranh Lý ngư vọng nguyệt, hai con cá chép đối nhau, nhìn bóng trăng. Tranh này nhắc lại sự tích Cá chép vượt vũ môn để hóa rồng. Đây là một sự khuyến khích các trẻ em phải cố gắng học hành để một mai thi đỗ cũng như cá chép vượt vũ môn vậy. Và tranh này cũng nhắc nhở người ta sự cần cù kiên nhẫn: con cá chịu khó còn vượt được vũ môn để hóa rồng thì con người ta hễ muốn là được, nhưng cần phải biết lập chí.
Tranh đàn lợn mẹ con cũng nhắc lại một cảnh sinh hoạt đồng quê: nuôi lợn. Ngoài ra tranh này, cũng như tranh đàn gà mẹ con, nói lên sự con đàn cháu đống và sự quây quần của gia đình.
Tranh đánh ghen với lời chú thích Nhân lão tâm bất lão, người già lòng chẳng già. Tranh vẽ cảnh vợ cả đánh ghen cùng vợ lẽ có ông chồng già ở giữa. Đây chỉ là một cảnh sống của dân quê. Người đàn ông thường hay muốn vườn thêm hoa nên trong nhà mới sinh cảnh cả lẽ ỷ eo. Bức tranh có ý khuyên các bà vợ cả không nên ghen tuông, và các ông chồng cũng không nên đa mang vợ nợ con kia khiến cho cảnh gia đình lục đục. Nhưng nhân lão tâm bất lão, cả sông đông chợ, lắm vợ nhiều con, bức tranh dù muốn nêu điều gì, cũng không sao ngăn được người đàn ông năm thê bảy thiếp.
Tranh hứng dừa vẽ một người lên cây dừa hai quả ném xuống cho người ở dưới giơ váy lên hứng quả dừa. Người ở dưới mải mê hứng quả dừa, đã không nghĩ rằng khi tốc váy lên thì để hở cả cơ đồ ra, và quả dừa chỉ là lợi nhỏ, hở cơ đồ của mình ra là hại lớn.
Tranh đánh đu tả một cảnh hội Tết với cây đu, người thời lên đứng kẻ nhòm trông.
Tranh nông phu ngồi gốc cây với chiếc cày bên cạnh và con trâu nằm trước mặt.
Tranh Tờ tiền vẽ những đồng tiền xếp liền nhau. Dán tranh này trong nhà, người ta tin làm ăn sẽ kiếm ra tiền.
Mấy bức tranh trên dán trên vách nhà nói lên phần nào những nét sinh hoạt của dân Việt Nam. Dưới đây là những bức tranh lịch sử và cổ tích các em thường mua về dán trong dịp Tết:

Tranh vua Đinh Tiên Hoàng cưỡi trâu cầm cờ lau, nhắc lại lúc nhà vua còn nhỏ, cùng lũ mục đồng cờ lau tập trận. Có điều hơi ngộ nghĩnh là vua Đinh cưỡi trâu cầm cờ lau nhưng lại mặc giáp trụ, tức là hình ảnh của nhà vua khi dẹp loạn Thập nhị sứ quân.
Tranh vua Đinh Tiên Hoàng cầm cờ lau, cởi trần, chống kiếm đứng trên lưng con rồng. Đây là sự tích Chú chém cháu, cháu nhảy xuống sông, con rồng nó đỡ, nhắc lại truyện vua Đinh Tiên Hoàng đi chăn trâu của chú, đã giết trâu để khao lũ mục đồng, bị ông chú đuổi chém chạy đến bờ sông, gặp lúc đường cùng, nhảy xuống sông thì có con rồng vàng đưa lưng lên đón đỡ.
Lại còn một bức tranh nữa cũng về tích này vẽ nhà vua đứng trên lưng rồng ở dưới sông, còn ông chú ở trên bờ chắp tay lạy.
Tranh bà Trung Trắc cưỡi ngựa cầm gươm, mình mặc giáp trụ, sau lưng có cắm bốn lá cờ.
Tranh Thạch Sanh bắn chim đại bàng, Thạch Sanh cứu công chúa dưới hang, Thạch Sanh giết mãng xà vương v.v...
Tranh Ngưu Lang Chức Nữ, vẽ Ngưu Lang ngồi dưới gốc cây, có con trâu nằm trước mặt ở một bên bờ sông Ngân, đàn quạ đang bắc cầu ô Thước, còn Chức Nữ ở bên kia bờ sông ngồi dệt vải, tay đang đưa thoi. Tranh này nhắc lại sự tích vợ chồng Ngâu.
Tục truyền tháng Bảy mưa Ngâu,
Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.
Một là duyên, hai là nợ,
Mối xích thằng ai gỡ cho ra?
Vụng về cũng thể cung nga,
Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.[1]
Tranh Chuột đỗ Trạng nguyên vinh quy bái tổ, ngựa anh đi trước, kiệu nàng đi sau. Và đám rước vinh quy này mang chim mang cá tới biếu chú mèo. Trên bức tranh có đề mấy hàng chữ:
Thử bối đệ ngự: chí, chí, chí, nghĩa là đàn chuột dâng cá kêu chí chí chí.
Miêu nhi thủ lễ: mưu mưu mưu, nghĩa là chú mèo giữ lễ: meo, meo, meo.
Lại có hàng chữ nôm ở góc trái phía trên:
Tác lạc: nghĩa là làm vui.
Khôn khôn khôn đã có dễ
Đỗ cao cưới vợ tiếng rằng hời.
Bức tranh này còn gọi là bức tranh Đám cưới chuột.
Tranh Thầy đồ cóc dạy học, trên bức tranh có bài cổ thi:
Xuân du phương thảo địa,
Hạ thưởng ngọc hồ trì,
Thu ẩm hoàng hoa tửu,
Đông ngâm bạch tuyết thi.
Tranh vẽ Thầy đồ cóc ngồi trên sập, có hai học trò cóc


đang kể bài hai bên phía trước. Dưới có ba con cóc đang viết, một con quạt siêu nước. Lại có một con cóc bị ba con cóc khác nọc ra đánh đòn. Chắc đây là chú cóc lười không thuộc bài.
Hai bức tranh Đám cưới Chuột và Thầy đồ cóc thường nhà nào cũng thấy có dán, và các trẻ em dường như thích những bức tranh này lắm.
Kể ra về loại tranh lịch sử và cổ tích còn nhiều: tranh Táo quân, tranh Quan Âm Thị Kính, tranh Lý Thường Kiệt v.v...
Và dưới đây là một số các bức tranh thuộc loại nêu lên những điều người Việt Nam mong mỏi và cầu chúc cho nhau:
Tranh Trường sinh, vẽ một cụ già râu dài, tay cầm quạt lông, cởi trần hở rốn, trên vai gánh một cành cây có treo lủng lẳng hai bên hai quả đào, một bên mang chữ trường và một bên mang chữ sinh. Trường sinh nghĩa sống lâu. Trên bức tranh cũng có một bài thơ nôm đại ý nói về sự sống lâu.
Tranh Bình an cũng vẽ một cụ già tay cầm quạt lông, cũng râu dài, cởi trần hở rốn và cũng gánh một cành cây mang hai quả đào viết hai chữ Bình an. Bức tranh cũng có một bài thơ nôm đại ý nói về sự bình an.
Hai bức tranh Trường sinh và Bình an dán đối nhau. Tranh Song hỉ vẽ hai đứa trẻ độ lên ba lên bốn tuổi, đầu còn trái đào, ăn mặc lễ phục, chân đi hài, một đứa cầm chiếc gậy đầu rồng, ở đầu có mặc chiếc đèn lồng, còn một đứa bưng chiếc khay trên đặt hai chữ Hỷ dính liền nhau. Đấy là song hỷ, chỉ hai điểm mừng là Phúc và Thọ.
Tranh Phúc Lộc Thọ, vẽ một cụ già cưỡi con hươu, có con dơi bay ở vai bên trái. Tay phải cụ già cầm một quả đào tiên.
Cụ già tượng trưng cho Thọ, con hươu tượng trưng cho Lộc, còn con dơi tượng trưng cho Phúc.
Kể ra, với ngày Tết, ở chợ quê, người ta còn bày bán nhiều loại tranh khác, và loại tranh nào cũng được các em ưa thích cả. Trên đây chỉ là một số các bức tranh nêu ra để các bạn đọc có một ý niệm về tranh ngày Tết của trẻ em đồng quê thời trước, cho tới năm 1944.
Dưới thời Pháp thuộc, các hàng tranh vẫn giữ nguyên nếp cũ với những tranh xưa, nhưng có vẽ bán thêm nhiều loại tranh mới về văn minh tiến bộ và về các danh nhân thế giới như Lê Nguyên Hồng...
Xin nhắc lại đây là những tranh mộc bản, in bằng mực đen, nhưng được các nhà sản xuất dùng phẩm tô màu sặc sỡ xanh, đỏ, tím, vàng...
Tranh được các bà hàng tranh bày bán vào dịp Tết, tranh bày la liệt trước mặt nhà hàng cứ hai bức tranh một, đối nhau.
Thỉnh thoảng mới có những bức tranh đơn độc như tranh Táo quân, tranh Thổ công tranh Tam da... Đặc biệt tranh Táo quân có hai loại cùng một hình, một loại in trên giấy vàng, chỉ in đen không tô màu, còn một loại in trên giấy trắng có tô màu ngũ sắc như các tranh khác. Cùng với các loại tranh trẻ em, các bà hàng tranh thường có bán thêm những bộ tranh của người lớn đã nói ở trên, với đủ sự tích, mỗi bộ bốn tờ với mười hai bức tranh.
Về loại tranh trẻ em, cũng có loại tranh Tàu vẽ những hình em bé nghịch trái đào, em bé ôm con vịt v.v... nhưng trẻ quê đâu có tiền mà chơi tranh Tàu, vừa đắt lại vừa không hợp với sở thích của các em.
Tục chơi tranh Tết ngày nay không còn ở vùng quê nữa, nhất là đối với các trẻ em, vì người lớn vẫn có thể mua những bức tranh Tàu về trang hoàng nhà cửa. Chỉ các em là thiệt thòi, nhất là ở các làng quê, chơi tranh quả là một cái thú của tuổi thơ khi Tết đến.
Câu đối
Tết đối với các làng quê phải có câu đối, nhất là trước đây hai chục năm. Cho đến ngày nay ở thành thị, vẫn còn nhiều người chơi câu đối Tết.
Chính vì những người chơi câu đối Tết, mà mỗi độ Xuân sắp về tại các chợ quê lại có các ông đồ bày hàng bán chữ, viết những đôi câu đối, có khi viết sẵn theo trong sách, có khi viết theo khách hàng đọc ra.
Câu đối viết trên giấy hồng điều, chữ mực tàu đen nhánh hoặc chữ kim nhũ vàng óng ánh. Cũng có khi câu đối được viết trên giấy đỏ có dát vàng lốm đốm.
Ngày Tết, thiếu câu đối chưa là đủ Tết. Trong nhà dù trang hoàng thế nào, thiếu những đôi câu đối đỏ, Tết vẫn phảng phất thiếu một cái gì.
Chơi câu đối, người ta chọn từng đôi cho hợp với cảnh, bởi vậy, nhiều người tự nghĩ lấy câu đối, viết lấy hoặc thuê các ông đồ viết giúp.
Câu đối cũng như tranh Tết, người ta dán từ ngoài cổng vào đến trong nhà.
Ngoài cổng ngõ, câu đối được dán hai bên trụ cổng.
Môn đa khách đáo thiên tài đáo
Gia hữu nhân lai vạn vật lai.
Lược dịch:
Cửa nhiều khách đến nhiều tiền đến.
Nhà có người vào lắm vật nào.
Đôi câu đối trên thường được dân ở nơi cổng ngõ và nói lên lòng hiếu khách của người dân quê Việt Nam. Người ta mong có khách để được tiếp đãi, không phải là khách sẽ mang tài lợi hại, nhưng khách tới trong nhà sẽ có vẻ tấp nập và sự vui mừng, đó là biểu hiện của sự thịnh vượng.
Bước qua khỏi cổng, vào tới trong sân, đến trước hiên nhà, nơi đây có hòn non bộ, có vườn hoa cây cảnh, hoặc không có gì nữa thì ở ngay hai bên cột hai hàng hiên cũng có dán một đôi câu đối:
Sơn thủy thanh cao xuân bất tận,
Thần tiên lạc thú cảnh trường sinh.
Lược dịch:
Phong cảnh thanh cao xuân mãi mãi,
Thần tiên vui thú cảnh đời đời.
Đôi câu đối nói lên vẻ thanh nhàn của chủ nhân, nhưng thực ra có khi chủ nhân vẫn quanh năm đầu tắt mặt tối. Chủ nhân chơi đôi câu đối này chỉ vì sự cảm thông với đất trời khi xuân trở lại, vì xuân năm nay đi, sang năm lại còn xuân khác, và xuân còn đến, tại sao chủ nhân không hưởng cái lạc thú trường sinh của đất trời.
Rồi vào đến trong nhà, dịp Tết, nhà nào ít nhất cũng có đôi ba đôi câu đối, hoặc viết trên giấy đỏ, hoặc viết trên những đôi liễn bồi có vẽ hoa cỏ hoặc chim phụng chim loan.
Thiên tăng tuế nguyệt, niên tăng thọ,
Xuân mãn càn khôn, phúc mãn đường.
Lược dịch:
Trời thêm năm tháng, tuổi thêm thọ,
Xuân khắp đất trời, phúc khắp nhà.
Ý nghĩa đôi câu đối trên thật giản dị và hợp với tâm hồn chất phác của dân quê.
Và đôi câu đối sau đây, ta thường thấy ở nhiều gia đình.
Tổ tôn công đức thiên niên thịnh,
Tử hiến tôn hiền vạn đại xương.
Lược dịch:
Công đức tổ tôn nghìn năm thịnh,
Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay.
Vì xuân đến cùng với Tết, nên nhiều đôi câu đối nhắc đến xuân:
Xuân như cẩm tú, nhân như ngọc,
Khách mãn gia đình, tửu mãn tôn.
Lược dịch:
Xuân như cẩm tú, người như ngọc,
Khách chật trong nhà, rượu kết chung.
Có khi nhắc đến xuân lại là một câu đối nôm:
Ngoài cửa mừng xuân nghênh Ngũ Phúc,
Trong nhà chúc Tết hướng Tam Đa.
Cũng có đôi câu đối, tuy nhắc đến xuân, nhưng vẫn nói tới phúc lộc và lễ nghĩa là những điều cẩn trọng trong nền luân lý Á Đông, mà dân tộc Việt Nam luôn luôn gìn giữ.
Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh,
Lộc tiến vinh hoa phú quý xuân.
Lược dịch:
Phúc đem lễ nghĩa trong nhà thịnh,
Lộc nảy vinh hoa phú quý xuân.
Xuân đến người dân quê cầu một mùa xuân như ý, cũng như hàng ngày người ta mong mỏi sự bình an. Một đôi câu đối có thể nói lên sự cầu mong này:
Niên niên như ý xuân,
Tuế tuế bình an nhật
Lược dịch:
Năm năm xuân như ý,
Tuổi tuổi ngày bình an.
Lại cũng có đôi câu đối có giọng tâng bốc chủ nhà và khen chủ nhà chỉ có những khách tài ba tới mừng xuân:
Nhập môn tân thị kinh luân khách,
Mãn tọa dai đồng cẩm tú nhân:
Lược dịch:
Vào cửa toàn khách kinh luân
Ngồi chơi toàn người cẩm tú.
Chơi xuân, tiếp khách nhưng người dân quê bao giờ cũng nhớ đến tiên tổ, lo điều nhân đức, cũng như nghĩ đến cháu con, làm điều tốt đẹp. Các cụ xưa sợ con cháu quên những điểm này, nên có để lại đôi câu đối sau đây ta thường bắt gặp tại những gia đình đạo đức miền quê:
Niệm tiên tổ, quật tu quyết đức,
Khải hậu nhân, trường phát kỳ tường.
Lược dịch:
Nhớ tiên tổ, đem điều nhân đức,
Tin cháu con, bền sự lạ hay.
Cùng với ý nghĩa trên liên quan tới việc lo điều nhân đức, nhiều nhà treo những đôi câu đối sau:
Thảo ốc an cư, tích kim quang đắc đức,
Bố y tùy phận cầu phúc đức lai tài.
Lược dịch:
Nhà có ở yên, tích kim quang, được đức,
Áo vải an thân, cầu phúc đức, đến tài.
Với đôi câu đối trên ta thấy dân ta luôn luôn chú trọng tới phúc đức, ở nhà cỏ, mặc áo vải, muốn có tài phải cần có phúc đức.
Thiên địa vô tư, tích thiện tư nhân thiện,
Thánh hiền hữu giáo, tu thân khả dĩ vinh.
Lược dịch:
Trời đất vô tư, làm điều thiện tự nhiên được thiện
Thánh hiền có dạy, lo tu thân có thể được vinh.
Cầu phúc đức phải lo làm điều thiện, và làm điều thiện lại gặp điều thiện, cũng như muốn được vinh hiển thì phải tu thân. Người dân quê Việt Nam, trong khuôn khổ đạo đức luôn luôn lo tu thân tích thiện.
Treo đôi câu đối trên trong nhà, cha mẹ muốn răn dạy con làm điều lành và cần phải sửa mình luôn luôn.
Và những người biết tích thiện tu thân tự nhiên sẽ gặp những điều tốt đẹp. Với năm mới sẽ được hưởng sự bình an hạnh phúc và với ngày xuân, điều vinh hoa phú quý sẽ lại. Những điều may mắn trên, bình an và phú quý ai không mong mỏi, và cầu chúc cho nhau. Bởi vậy, tại nhiều nhà thường treo đôi câu đối:
Tân niên hạnh phúc bình an tiến,
Xuân nhật vinh hoa phú quý lai.
Lược dịch:
Năm mới, hạnh phúc bình an đến,
Ngày xuân, vinh hoa phú quý về.
Người dân quê cho rằng nếu họ được hạnh phúc bình an và vinh hoa phú quý đó là do Trời Đất thương mà ban cho. Người ta không quên Trời Đất, và dưới đây là một câu đối nhắc đến sự rộng lượng của Đất, Trời:
Địa sinh tài, thế nghiệp quang huy,
Thiên tứ phúc, gia thanh hiện tái.
Lược dịch:
Đất sinh tài: nghiệp đời xán lạn,
Trời ban phúc, nhà tiếng tốt tươi.
Khi đã được Đất, Trời ban tài cho phúc, sự phú quý vinh hoa sẽ gia tăng với phúc đức:
Phúc mãn đường, nên tăng phú quý,
Đức lưu quang, nhật tiến vinh hoa.
Lược dịch:
Phúc đầy nhà, năm thêm giàu có.
Đức ngập tràn, ngày một vinh hoa.
Ngoài những đôi câu nhắc nhở đến đạo đức như trên, có những đôi câu đối đề cập tới những cảnh nước nhà với những cây mai cây trúc báo điềm tài lợi lộc quyền là điều người ta hằng mong đợi:
Trúc báo bình an, tài lợi tiến,
Mai khai phú quý, lộc quyền lai.
Lược dịch:
Trúc giữ bình yên, thêm tài lợi,
Mai khai phú quý, lại lộc quyền.
Trúc với lai là hai cây cảnh thường được trồng trước cửa nhà. Với xuân sang lá trúc xanh tươi, hoa mai trắng toát điểm trang cho vườn cảnh trước nhà, và với lá trúc xanh, hoa mai nở, người dân quê tin rằng năm mới sẽ thêm tài lợi và lộc quyền.
Đại để những đôi câu đối xuân thường luôn luôn mang ý nghĩa tốt đẹp, và đôi khi nhắc nhở con người ta đến điều đạo đức. Trên đây chỉ là một số những đôi câu đối được đan cử ra trong hàng trăm nghìn câu đối cổ khác.
Ngoài ra, đôi khi vào một gia đình tổ tiên trước đây đã có một sự nghiệp, ta có thể được đọc một đôi câu đối trong đó con cháu đã khéo léo ghi lại sự nghiệp của ông cha và ý muốn noi theo nghiệp nhà:
Tiên tổ phương danh lưu quốc sử,
Tứ tôn tích học hiển gia phong.
Lược dịch:
Tiên tổ danh thơm ghi sử nước,
Cháu con tích học nổi cơ nhà.
Câu đối thường treo ở hai bên bàn thờ gia tiên, nhưng nếu trong nhà có thờ các vị Thần, Phật, mỗi bàn thờ đều có câu đối riêng. Dưới đây là một đôi câu đối treo ở bàn thờ Phật:
Liên tọa đài tiền hoa hữu thực,
Bồ đề thụ thượng quả thanh nhàn.
Lược dịch:
Tòa sen đài trước hoa đầy đủ,
Cố thụ bồ đề quả thanh nhàn.
Câu đối đỏ tăng vẻ tưng bừng cho ngày Tết và đem màu xán lạn lại trong nhà trước cảnh xuân. Người dân quê đón Tết với hương hoa, bánh trái, nhưng không bao giờ họ quên câu đối đỏ


Mấy tục lệ của ngày 30 tết
Ngày 30 Tết là ngày cuối cùng của năm. Người ta đã sửa soạn Tết cho đến ngày hôm nay, và sáng ngày có nhiều nhà còn bận rộn vì nồi bánh chưng luộc chưa xong, vì bàn thờ trang hoàng chưa hết. Người ta vội vàng hấp tấp cố làm gấp những việc còn đang dở dang để trước ngày Tết mọi việc phải xong.
Ngoài chợ làng, trên đường làng, sáng ngày ba mươi Tết vẫn còn mọi sự nhộn nhịp và người người như vội vàng sợ thời gian trôi quá mau, nhưng chỉ nhộn nhịp cho đến quá trưa, từ quá trưa về chiều chợ làng đã vắng vẻ và đường làng cũng thưa người qua lại. Có còn bóng người chăng? Đó chỉ là những người đi gửi Tết trễ tràng, đang rảo bước mang vàng hương và đồ lễ tới nhà gia trưởng, hoặc một vài em nhỏ đang cùng nhau đốt một vài chiếc pháo để cùng vui nốt buổi chiều cuối năm.
Cuối năm trời thường lạnh, có khi lại phơn phớt mưa phùn, cảnh chiều ba mươi có một màu sắc đặc biệt. Phải chăng trời đất luyến tiếc năm cũ, hay tạo hóa thương hại cho mấy người du tử ở phương trời đang vội vàng trên đường về quê mẹ để hưởng sự xum họp gia đình của mùa xuân.
Trên sông nước trong khoang thuyền chở vội,
Giữa bọn người về tết chuyện ba hoa,
Một lũ khách lạnh lùng ôm khăn gói
Mắt mơ màng theo tiếng pháo xa xa [1]
(Anh Thơ)
Ngày ba mươi Tết qua đi, và năm mới sẽ sang nhưng trong ngày này, người dân còn nhiều tục lệ mà họ không muốn bỏ, có tục lệ ngày nay vẫn còn và có những tục lệ chỉ còn là những hình ảnh xa xăm.
Rước các cụ
Dân Việt Nam ta thờ phụng tổ tiên, và đối với chúng ta, tổ tiên luôn luôn gần gũi con cháu, nhất là trong những ngày giờ vui buồn của gia đình.
Tết cũng là một dịp để gia tiên về cùng con cháu và chính cũng để đón tiếp hương hồn tổ tiên mà mọi người đã sửa soạn bàn thờ, lo sắm Tết, lo gửi Tết.
Tại nhiều làng, như làng Đáp Cầu, huyện Võ Giàng tỉnh Bắc Ninh (Hà Bắc), chiều ngày ba mươi Tết người ta có tục rước tổ tiên về thờ. Người gia trưởng mang vàng hương tới các ngôi mộ khấn mời hương hồn người nằm trong mộ về hưởng Tết. Nhân dịp này, người ta đắp lại cho cao nấm mộ, cuốc hết những cây dại mọc bên mộ để rễ những cây này khỏi xâm phạm tới hài cốt. Người ta cắm một nắm hương trên mộ. Đây là một dịp để con cháu săn sóc lại phần mộ gia tiên, quanh năm bận rộn vì sinh kế, ít khi có thì giờ để con cháu lưu ý tới mồ mả tiền nhân.
Cúng gia tiên
Nhiều nơi khác, rước các cụ, người ta không ra hẳn mộ, mà người ta chỉ thắp hương khấn vái ở bàn thờ trong nhà. Đó là lệ cúng cơm chiều ba mươi Tết.
Lúc này, cỗ bàn đã có, bánh trái đã xong, gia trưởng cúng khấn để mời hương hồn các cụ về ăn Tết với con cháu.
Lẽ tất nhiên, trước khi cúng gia tiên, người ta phải có lễ cúng Thổ công, vị đệ nhất chi chủ, để xin phép ngài cho hương hồn nội ngoại tổ tiên gia chủ về ăn Tết.
Súc sắc súc sẻ
Tối hôm ba mươi Tết, ngày xưa tại các làng xã, những trẻ em nghèo họp nhau thành từng bọn, rủ nhau đi chúc Tết, tuy mới có là chiều ngày ba mươi. Mỗi bọn các em có một chiếc ống đựng tiền, thường là ống tre. Các em tới từng gia đình và các em cùng nhau hát, vừa hát vừa lắc ống tiền:
Súc sắc súc sẻ,
Nhà nào còn đèn còn lửa,
Mở cửa cho chúng tôi vào.
Bước lên giường cao,
Thấy đôi rồng ấp;
Bước xuống giường thấp
Thấy đôi rồng chầu;
Bước ra đằng sau,
Thấy nhà ngói lợp;
Voi ông còn buộc,
Ngựa ông còn cầm;
Ông sống một trăm,
Linh năm tuổi trẻ.
Vợ ông sinh đẻ,
Những con tốt lành,
Những con như tranh,
Những con như rối.
Tôi ngồi xó tối,
Tôi đối một câu.
Đối rằng:
Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao pháo nổ bánh chưng xanh.
Các em vừa súc sắc súc sẻ vừa hát trong lúc gia đình chủ nhân chăm chú nghe, và sau câu hát đầy lời chúc tụng trên, gia đình nào cũng tặng các em một số tiền. Tục cho rằng, các em đến đem sự may mắn lại. Không gia đình nào để các em ra không. Cũng có gia đình lại cho các em cả bánh mứt. Các em dùng tiền này chia nhau để mua pháo ngày xuân.
Đêm ba mươi tết
Trời tối quá! Bên ngoài trời tối quá!
Những cây nêu tiếng khánh khẽ khua thầm,
Những cung vôi trong sân như mờ xóa,
Những giấy điều trước cửa dán đên thâm.
*
* *
Quanh bếp ấm nồi bánh chưng sùng sục,
Thằng cu con dụi mắt cố chờ ăn.
Đĩ nhớn mơ chiếc váy sồi đen rức,
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.
*
* *
Bỗng tiếng pháo đẹt đùng xa nổ báo
Ngoài đình trung làng đã tế giao thừa.
Cả nhà vội giật mình không ai bảo
Cùng đứng lên thăm bánh chín hay chưa [2]
Bài thơ trên của nữ thi sĩ Anh Thơ đã tả đúng cái cảnh đêm ba mươi Tết ở làng quê, với một đôi tục lệ của dân Việt Nam. Chiều ba mươi Tết có những tục lệ của buổi chiều, thì đêm ba mươi Tết lại có những tục lệ riêng của ban đêm, những tục lệ đã lưu truyền từ ngàn xưa trong tín ngưỡng của dân ta, mà trong đó nhiều tục thật có lắm điều hay hay.
Đòi nợ tết
Ta có câu:
Khôn ngoan đến cửa quan mới biết,
Giàu có ba mươi Tết mới hay!
Người khôn ngoan đến cửa quan, trước những lời vặn hỏi của nha lại và của chính vị quan sẽ đủ lý lẽ để trả lời, đủ bình tĩnh để không lúng túng, còn người giàu kẻ nghèo, ai muốn rõ ai, ngày ba mươi Tết có thể biết được, vì ta có tục đòi nợ Tết. Cái tục này thật là tai hại đối với những người làm ăn kém may mắn, mang công mắc nợ. Thật là khổ sở, nếu Tết đến mà chưa lo được đủ tiền trả nợ. Chủ nợ sẽ thằng thúc họ cho đến tận lúc giao thừa.
Người ta sở dĩ đòi nợ cho đến Tết là vì ngày hôm sau là ngày đầu năm, người ta kiêng không dám hỏi nợ người bị hỏi nợ như vậy sẽ bị giông quanh năm, và có thể sẽ làm ăn không phát đạt được. Đòi nợ ngày mồng một Tết, không những con nợ không trả, mà có khi con nợ còn mắng cả chủ nợ vì đã không biết kiêng cho mình.
Hơn nữa, món nợ năm này bước sang năm sau dã biến thành món nợ cũ, và nợ cũ lẽ tất nhiên khó đòi hơn những nợ mới cho vay.
Ai đã từng sống ở các làng quê, hẳn đã thấy đêm ba mươi Tết, có nhiều người cầm đèn chống gậy đi vào các xóm để tìm các con nợ.
Đón giao thừa
Giao thừa là giờ phút giao tiếp giữa hai năm cũ và mới. Đêm hôm ba mươi Tết người ta không đi ngủ sớm. Người ta thức để chờ đợi giây phút thiêng liêng của một năm: giây phút giao thừa.
Trong lúc này có nhà còn đang ninh nồi bánh chưng sình sịch và trẻ con còn đang quây quần quanh bếp ấm để chờ nồi bánh chín.
Trên giường thờ, nhà nào cũng khói hương nghi ngút với đèn nến soi tỏ rõ những đồ thờ, những nghìn vàng mặt gương lấp lánh, những cành hoa giấy sặc sỡ ngũ sắc, và những đồ lễ bày trên những chiếc mâm bồng đã được lau chùi trông như mới. Nén hương sào dài ngất nghểu cắm giữa bình hương và dưới chân nén hương sào là một vòng hương vòng mắc trên một chiếc trụ đang cháy tỏa một mùi thơm ngát.
Năm mới sắp sang, mọi người hồi hộp chờ đợi với bao nhiêu niềm hi vọng. Người ta được thêm một tuổi, và với giờ phút giao thừa, năm cũ sẽ ở lại cùng với tất cả mọi sự không hay, và năm mới đến sẽ mang nhiều điều tốt lành lại.
Trong đầu óc, có người nhẩm tính lại quãng đời một năm qua với những sự làm ăn hoặc dễ dàng hoặc vất vả, và người ta mong năm sau làm ăn sẽ tiến phát bằng năm bằng mười năm cũ.
Giờ phút lặng lẽ trôi với trời tối đen như mực, và ở miền Bắc, với cái rét lạnh điểm thêm những hạt mưa phùn cuối năm lớt phớt. Cũng những giọt mưa này, nhưng qua giao thừa đó sẽ là những giọt mưa xuân đem sinh khí lại cho cỏ cây và muôn vật, đem màu tươi lại cho muôn hoa...
Giờ phút giao thừa thật là được nghiêm trang chờ đợi.
Tổng cựu Nghinh tân
Giây phút thiêng liêng chờ đợi đã tới! Đã đến giờ giao thừa, bắt đầu từ giờ Tý.
Từ các nhà tư, đến xóm, ngõ, đình, chùa, nơi nơi đều có lễ trừ tịch. Trừ tịch là giây phút cuối cùng của năm cũ và cũng sắp là giây phút đầu tiên của năm mới.
Người ta làm lễ trừ tịch để bỏ đi hết những điều xấu dở cũ kỹ của năm cũ và để đón những điều mới mẻ tốt đẹp của năm mới.
Lễ trừ tịch còn mang tên là lễ giao thừa, vì lễ cử hành vào đúng lúc giao thừa.
Đây là lễ tống cựu nghinh tân, tiễn cũ và đón mới. Cũ đây, ngoài những điều xấu dở cũ kỹ, người ta còn tiễn đưa vị đương niên hành khiển đại vương của năm cũ, và mới đây, ngoài những điều mới mẻ tốt đẹp, người ta còn đón rước vị tân đại vương hành khiển của năm mới.
Tục ta tin rằng mỗi năm có một ông Hành khiển coi việc nhân gian, hết năm thì thần nọ bàn giao công việc lại cho thần kia, cho nên cúng tế để tiễn ông cũ và đón ông mới.[3]
Tại tư gia, làm lễ giao thừa, người ta bày hương án cúng ở giữa sân. Đồ lễ gồm bánh trái, trong đó phải có bánh chưng, trầu rượu, vàng hương. Người đứng cúng là gia chủ.
Cúng lễ xong người ta đốt một tràng pháo. Tiếng pháo mang sự vui mừng lại, tăng sự hân hoan cho ngày Tết, và tiếng pháo cũng trừ được ma quỷ. Theo các sách cũ chép lại thì giống ma núi gọi là Sơn tiêu, thường phạm tới người làm cho đau ốm, người ta đốt pháo để chúng tránh xa.
Chính ra, người ta đốt pháo từ chiều ba mươi Tết, ngay sau khi cúng gia tiên.
Cúng lễ giao thừa xong, các gia chủ cũng cúng khấn Thổ Công, vị thần cai quản trong nhà, mà chủ nhà phải cúng lễ mỗi khi có sự cúng bái gì.
Tại các thôn xóm, các vị thủ chỉ thôn hoặc trưởng xóm làm lễ giao thừa tại điếm sở, hoặc tại nơi công quán. Trong lúc cúng lễ có đánh trống đốt pháo. Có nơi, tuy là thôn xóm, nhưng người ta có tế giao thừa với nghi thức đầy đủ của một buổi tế.
Tế giao thừa xong, dân thôn xóm cũng có lễ cúng Thổ thần hàng thôn hoặc hàng xóm.
Tại đình làng cũng có lễ hoặc tế giao thừa. Ở đây ông Tiên chỉ hoặc ông Thủ từ làm chủ lễ. Cùng với lễ giao thừa dân làng cũng làm lễ cúng đức Thành hoàng bản xã.
Tại các chùa cũng có lễ cống cựu nghinh tân.
Giờ phút này, tiếng chuông, tiếng trống, tiếng pháo vang lên, nơi này như trả lời cho nơi khác, nhất là tiếng pháo nổ khắp tứ phía trong làng. Nhà giàu, nhà nghèo cũng có đốt một bánh pháo trước là để tống cựu nghinh tân, sau là để mừng xuân.
Đi lễ đêm 30 tết
Sau khi cúng giao thừa ở nhà xong, người dân quê có tục đi dự lễ giao thừa tại thôn xóm, tại đình làng. Rồi người ta vào lễ thần tại đình, và lễ Phật tại chùa. Cũng có nhiều người đi lễ các đền miếu trong làng. Người ta đi lễ để cầu Phật, Thần phù hộ cho một năm may mắn cho bản thân và cho cả gia đình.
Kén hướng xuất hành
Ngoài trừ trường hợp đi dự lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình làng, trong khi đi lễ các đền miếu hoặc chùa chiền, người ta thường kén hướng và kén giờ để xuất hành. Kể từ lúc giao thừa, người ta đã bước sang năm mới, xuất hành người ta kén hướng để cầu mong sự may mắn quanh năm.
Có nhiều người, dự lễ giao thừa tại thôn xóm xong, họ trở về nhà để ngày hôm sau hoặc mồng hai, mồng ba Tết, hôm nào tốt ngày mới kén hướng xuất hành.
Hái lộc
Đi lễ đêm ba mươi Tết, lúc trở về ta có tục hái một cành cây hoặc một cành hoa về cài vào cửa, tục gọi là hái lộc, cành hoa hoặc cây này gọi là cành lộc. Hái lộc là có ý xin lộc của trời đất, Phật Thần ban cho. Có người mang cành lộc về cắm vào bình hương bàn thờ thay vì cài ở trước cửa.
Cành lộc thường là cành đa, cành đề, cành si, trước các đình đền chùa miếu thường có các cây cổ thụ này. Và những cây này thuộc loại cây sống lâu, hái cành lộc ở các cây này, người ta mong lộc của Trời Phật Thần Thánh ban cho sẽ được lâu bền.
Hương lộc
Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái cành lộc, lại xin lộc bằng cách đốt một nén hương sào hoặc một bó hương nhỏ đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó về cắm tại bàn thờ gia tiên hoặc bàn thờ Thổ công.
Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa từ các nơi thờ tự mang về, tức là xin lộc của Phật Thánh để Phật Thánh, phù hộ cho làm ăn được phát đạt quanh năm.
Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm.
Xông nhà
Thường cúng giao thừa ở nhà xong, người gia chủ mới đi dự lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình hay đi lễ đình chùa nhưng có nhiều người lại ra đi từ trước giờ trừ tịch để dự lễ giao thừa tại thôn xóm hoặc đình làng, hay đi lễ đình chùa, rồi mới trở về lễ giao thừa ở nhà.
Những người này muốn tự xông nhà lấy.
Xông nhà tức là vào nhà một người nào hay chính nhà mình trước nhất trong một năm khi chưa có người nào khác tới.
Tục ta tin rằng người xông nhà dễ vía mang sự dễ dàng may mắn lại cho gia đình mà người đó tới xông nhà.
Nếu không xông nhà ấy, người ta phải nhờ một người khác trong thân bằng cố hữu tốt vía để sáng sớm ngày mồng một Tết đến xông nhà trước khi có khách khác tới chúc Tết.
Người xông nhà thường đốt một bánh pháo để mừng nhà chủ, và trong trường hợp chính người nhà tự xông nhà lấy, người ta cũng tự đốt một bánh pháo đề đón sự may mắn đầu năm. Xác pháo đỏ tượng trưng cho nhiều điều tốt đẹp, vì màu đỏ chỉ sự vui mừng


Tục lệ ngày Nguyên Đán
Sau lễ giao thừa, hoặc sau khi đi lễ về, người ta đã sống với năm mới. Người chờ đợi sáng ngày mồng một với một giấc ngủ ngắn ngủi của đêm giao thừa.
Mồng một tới, và đây là ngày thứ nhất của Tết Nguyên Đán, Tết gọi như vậy là vì nguyên bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên Đán mở đầu cho một năm mới và tất cả mọi cảnh vật đêu mới mẻ với xuân sang.
Chúc tết
Tại các làng quê, ngày mồng một Tết có tục chúc Tết tại đình làng. Sáng hôm đó, tại đình các vị chức sắc, các nhân viên trong hội đồng kỳ mục cùng nhau tế tựu để làm lễ đức Thành hoàng, và sau đó mọi người chúc Tết ông Tiên chỉ và chúc Tết lẫn nhau. Ông Tiên chỉ làm lễ đức Thành hoàng và đọc bản văn chúc Tết:
Năm cũ đã qua,
Năm mới đã đến,
Bước vào đình trung.
Tôi xin kính chúc:
Trước tôi chúc Thánh cung vạn tuế tại thượng dương dương, bảo quốc hộ dân, lưu ân tích phúc.
Tôi lại chúc ký lão sống tám chín mươi, thọ tăng thêm thọ.
Tôi lại chúc quan viên trùm lão, niên tăng phú quý nhật hưởng vinh hoa.
Tôi lại chúc quan lại binh viên ta đốt pháo xông tên, công thành danh toại.
Tôi lại chúc đồng trang thượng hạ, già sức khỏe, trẻ bình yên, nhờ đức vua, nhà no người đủ, các xướng Thiên Thu Vạn Tuế.[1]
Với bản văn chúc Tết, sau khi chúc Thánh cung vạn tuế, tức là chúc đức Thành hoàng bản xã, ông Tiên chỉ đã chúc Tết tới hết mọi tầng lớp trong dân xã.
Bản văn đọc xong, ông Tiên chỉ lễ trước bàn thờ, sau đó các chức sắc quan viên lần lượt vào lễ. Đồng thời một tràng pháo nổ mừng xuân.
Cúng lễ và chúc Tết ở đình xong, mọi người lại ra về, ai về thôn xóm người nấy, vì ở thôn xóm cũng có cuộc chúc Tết của hàng thôn, hàng xóm, và những phường nghề nghiệp hoặc buôn bán, các phường viên cũng chúc Tết ông Trùm hoặc bà Trùm của phường.
Hàng thôn, hàng xóm, mọi người họp nhau ở điếm sở hoặc ở nhà công quán, hoặc ở nhà ông Thủ chỉ nếu thôn xóm không nơi điếm sở hoặc nhà công quán.
Tại nơi đây, thường một người đứng lên chúc Tết ông Thủ chỉ hoặc ông Trùm:
Thiều quang đãng dật
Thực khí nhân huân,
Ngũ lão ban đồng kiên lão,
Tam đa chúc hiệp hoa phong,
Tam đạt tôn chữ Sỉ làm đầu [2]
Ai cũng mừng ông Trùm tuổi thọ.
Sách có chữ rằng:
''Tuệ hữu tứ thời Xuân tại thủ,
Nhân kiêm ngũ phúc Thọ vi tiên''.
Mừng ông Trùm đầy Phúc Lộc kiêm tuyền
Lại gồm chữ ''Hương trung thượng thọ''
Tước lộc thế mà danh lợi thế,
Dẫu nghìn năm còn tiếng thơm dai.
Thảnh thơi thọ vực xuân đài,
Đâu đâu cũng hoan hài ca vũ.[3]
Với lời chúc tụng đầy tốt đẹp trên, ông Thủ chỉ hoặc ông Trùm, tự lấy làm sung sướng và cũng có lời chúc lại bà con trong thôn xóm hoặc các phường viên.
Chúc Tết xong, thường ông thủ chỉ, hoặc ông Trùm mời mọi người uống chén rượu mở hàng thưởng xuân.
Khi mọi người kéo nhau tới nhà ông Thủ chỉ, hoặc ông Trùm thường có lệ đốt một bánh pháo mừng. Tại các nơi điếm sở công quán, cũng giống như ở đình, người ta cũng đốt một bánh pháo sau khi cúng để mừng Tết lẫn nhau.
Chúc Tết ở đình và thôn xong, mọi người đều trở về nhà đề lo cái Tết của gia đình mình.

Tại các gia đình, sớm ngày mồng một Tết, người ta lo cúng gia tiên và cúng Thổ công. Sau buổi cúng đầu năm này, con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ.
Các cụ ngồi ở nhà thờ để con cháu tới lạy mừng chúc Tết. Mỗi người lạy các cụ hai lạy rưỡi rồi chúc các cụ một năm mạnh khỏe bình yên khang thái. Nhận lễ và lời chúc Tết của con cháu, các cụ hân hoan sung sướng. Xin nói thêm, trong lúc này, các cụ ăn mặc trịnh trọng với những bộ quần áo đẹp nhất của ngày Tết, các con cháu cũng vậy.
Chúc Tết các cụ, con cháu thường dâng các cụ một món quà Tết như bánh trái hoặc một món tiền đặt trong một phong giấy hồng. Tiền này gọi là tiền mở hàng, đem may mắn lại cho các cụ quanh năm.
Con cháu chúc Tết các cụ xong, các cụ cũng chúc Tết lại con cháu những điều tốt đẹp, nào là nhất bản vạn lợi, nào là làm ăn phát đạt bằng năm bằng mười năm ngoái, nào là vạn sự như ý, nào là sinh đẻ con trai v.v... Và các cụ cũng mở hàng lại cho con cháu một món tiền gọi là tiền mừng tuổi, người giàu thì mừng tuổi nhiều, người nghèo cũng mừng tuổi tượng trưng một vài đồng tiền, miễn sao có sự mừng tuổi để con cháu gặp được may mắn tốt đẹp.
Suốt trong mấy ngày Tết, ngoài các cuộc chúc Tết nêu trên, người trong làng gặp gỡ nhau, tới lễ Tết nhà nhà đều chúc nhau những điều thịnh vượng. Dân trong làng, tuy hàng ngày gặp gỡ nhau, nhưng ngày Tết gặp nhau họ đều như hân hoan mừng rỡ. Bao nhiêu những sự tị hiềm trong năm cũ hầu như mất hết, gặp nhau ai cũng niềm nở với ai, và ai cũng chúc cho ai toàn những điều mình mong mỏi.
Đấy là chỉ nói ở phạm vi trong làng, vì ngoài việc chúc Tết ở trong làng, các hương chức lý dịch còn hợp nhau đi chúc Tết quan sở tại. Và cũng có những người làng này sang làng khác để chúc Tết bạn bè và đồng thời để lễ gia tiên nhà bạn.
Anh em bạn thăm nhau, mỗi người đưa nhau một cánh danh thiếp đỏ, đề mấy chữ tên.[4]
Mừng tuổi hoặc lì xì
Với Tết, với Xuân, người ta được thêm một tuổi. Thêm tuổi tức là thêm thọ, và đây là một điều đáng mừng và ngày Tết từ lớn chí bé thường ai cũng nhắc tới tuổi mình.
Bà lão nằm tính tuổi sắp thêm năm.[5]
Các em bé thêm tuổi là thêm lớn. Chính vì vậy, nên trong lúc chúc Tết, ta có tục mừng tuổi, và như trên đã trình bày, người ta mừng tuổi bằng tiền. Tiền mừng tuổi phong bao trong những giấy hồng, thường có tiền lẻ, vì người ta có ý tiền đó sẽ sinh sôi nẩy nở thêm nhiều và sẽ đem lại may mắn cho con cháu.
Tiền mừng tuổi cũng gọi là tiền mở hàng để lấy may. Bạn bè gặp nhau cũng thường mở hàng cho nhau để cầu chúc cho nhau những sự phát đạt.
Tiền mở hàng người ta thường cất đi để giữ lấy cái may mắn.
Miền Nam, mừng tuổi cho các trẻ em gọi là lì xì.
Ngoài ông bà cha mẹ mừng tuổi cho con cháu, trong ngày Tết, các chú bác cô dì cậu mợ cũng mừng tuổi cho các cháu. Và những bạn bè trong làng, khi tới nhà nhau lễ Tết, chúc Tết, người ta cũng thường mừng tuổi cho con các bạn bè, hoặc khi một người bạn tới chúc Tết, có em nhỏ đi theo, chủ nhà thường mừng tuổi cho em để em hay ăn chóng lớn, học hành thông minh sáng láng, khỏe mạnh và ngoan ngoãn.
Và những người làng khi gặp gỡ nhau ở ngoài đường cũng mừng tuổi nhau, nhưng chỉ mừng tuổi nhau trong lời nói.
Các cô gái đội vàng hương ôm váy
Miệng tươi cười mừng tuổi những người qua.[6]
Mừng tuổi những người qua, người ta thường dùng những câu thật là sáo nhưng trong hoàn cảnh ngày Tết lại là những câu thật chân thành:
Năm mới mừng tuổi bác năm nay đẻ con trai, đắc tài sai lộc bằng năm bằng mười năm ngoái.
Năm mới mừng tuổi cô năm nay cho chúng tôi ăn trầu.
Năm mới mừng tuổi cụ năm nay mạnh khỏe bình yên v.v...
Lễ tết
Dân ta thờ phụng Tổ tiên. Người ta thờ phụng tổ tiên nhà mình, lại tôn trọng cả tổ tiên nhà người khác. Do đó tại các vùng quê có tục đi lễ Tết. Nhân ngày Tết, người trong cũng đến nhà nhau, không phải là chỉ để chúc Tết như người thành thị mà chính là để lễ Tết. Việc lễ Tết là việc chính, chúc Tết xã giao là thứ yếu.
Con cháu phải đến lễ Tết tại nhà gia trưởng, các nhân viên trong hội đồng kỳ mục đến lễ Tết nhà ông Tiên chỉ, cũng như đến lễ Tết tại nhà những nhân viên khác trong ban hội đồng. Bạn bè đến lễ Tết nhà nhau, và dân làng hàng xóm cũng vậy, nhất là các người có họ hàng với nhau, việc đến lễ gia tiên nhà nhau là gần như bắt buộc.
Thường các gia chủ đi lễ Tết, nhưng vì làng xã rộng, và việc lễ Tết không thể bỏ sót được, nên một mình các cụ đi không hết, các cụ cắt con cháu đi thay.
Đến mỗi nhà, người đi lễ Tết phải lễ trước bàn thờ bốn lễ và ba vái. Lễ Tết xong lại chúc Tết, rồi nhà chủ mời khách xơi miếng trầu hớp nước, có khi lại ép ăn bánh ăn mứt mở hàng.
Trong khi đi lễ Tết, quần áo phải chỉnh tề, đầu phải đội khăn, ăn mặc lôi thôi là một sự bất kính không những đối với giới vô hình ngự trên các bàn thờ, mà cả với các chủ nhà mình tới lễ Tết.
Thường khi một người tới lễ Tết nhà nào, nhà nấy sẽ có một người khác tới đáp lễ, vì khi người ta đã lễ tổ tiên nhà mình, mình cũng phải lễ lại tổ tiên nhà người ta. Tuy nhiên cũng có những trường hợp không cần có sự đáp lễ trên: con rể đến lễ Tết nhà bố mẹ vợ, học trò đến lễ Tết nhà thầy, người làm công đến lễ Tết nhà chủ, người chịu ơn đến lễ Tết nhà người đã ra ơn cho mình.
Đàn ông đi lễ Tết, đàn bà cũng đi lễ Tết. Trong một gia đình chỉ cần một người tới lễ Tết một nhà, nhưng khi là chỗ thân tình, thường cả hai vợ chồng cùng đến, đi cùng một lúc hoặc đi hai buổi khác nhau.
Người ta đi lễ Tết trong suốt ngày mồng một và mồng hai rất đông, bước sang ngày mồng ba, người ta thường đi lễ đền chùa nhiều hơn, tuy vậy có những người là con cháu trong ba ngày Tết chưa kịp đến lễ tại một nhà gia trưởng, hoặc nhà ông chú bà bác, thì sáng sớm ngày mông bốn người ta còn vội vàng tới lễ Tết để kịp trước khi các nhà này hóa vàng tiễn các cụ.
Các trẻ em tuổi đã hơi lớn hơn, trong ngày Tết cũng phải đi lễ Tết các nhà họ hàng.
Khi lễ Tết người ta chỉ lễ bàn thờ gia tiên mà không lễ bàn thờ Thổ công.
Hiếu khách
Người Việt Nam vốn xưa nay hiếu khách, với ngày Tết tinh thần hiếu khách càng tỏ rõ hơn. Mỗi người tới lễ Tết đều được gia chủ niềm nở chào mời, và người khách sau khi đã lễ gia tiên nhà chủ xong, thế nào cũng phải cầm miếng trầu, uống hớp nước. Khách không thể từ chối, vì từ chối sẽ làm giông (rủi) nhà chủ.
Nhiều nhà bày bánh mứt chè lam mời khách, khách muốn từ chối cũng không được. Có chủ nhân lại ép khách nếm bánh chưng nhà mình, tuy rằng ngày Tết ở nhà quê nhà nào cũng có bánh chưng. Mời được khách nếm miếng bánh, được khách khen ngợi bánh ngon, người chủ nhà cho là điểm tốt.
Bánh chưng ngày Tết thường được mời ăn với giò lụa hoặc cá kho. Mời khách nếm bánh chưng ngày Tết các bà nội trợ cũng có ý muốn khoe tài bếp núc của mình. Giò ngày Tết thường là giò gia chủ đánh đụng lợn giã lấy và gói lấy. Khách khen ngon làm cho chủ nhân vui sướng.
Có người sẽ bão rằng như vậy đâu phải là hiếu khách mà đây chỉ là tính khoe khoang của chủ nhà.
Đúng, nhưng sự khoe khoang chỉ có một phần, còn chính là nhà chủ muốn mời khách ăn bánh của nhà mình, và người dân quê rất lấy làm hân hạnh được tiếp các bạn bè thân sơ ở các làng xa tới Tết nhà mình và mời dùng một bữa cơm Tết với mình. Trong những ngày hội xuân mở tại các làng quê, những người trong làng thường lấy làm sung sướng khi mời được những người quen biết tới xem hội làng vào nhà mình uống nước ăn trầu hoặc dùng cơm rồi nghỉ ngơi, nếu hội kéo dài nhiều ngày.
Trong ngày Tết, có nhiều người vì lòng hiếu khách thường dành bánh trái để mời khách, đúng với câu nhịn miệng thết khách.
Khai bút
Các ông đồ, các tay văn tự, nhân dịp Tết thường chọn ngày giờ tốt để khai bút. Các ông làm một bài thơ, hoặc viết một câu đối.
Thơ hoặc câu đối này, làm xong có khách tới lễ Tết các ông đọc cho nhau nghe rồi cùng ngâm vịnh.
Các học trò nhân ngày Tết cũng kén giờ hoàng đạo khai bút để cầu học hành tấn tới, thi cử đỗ đạt. Tục lệ khai bút của học trò, dưới thời Pháp thuộc, tuy đi học chữ quốc ngữ và chữ Pháp, vẫn được giữ. Tôi còn nhớ một bài thơ khai bút, lúc học ở trường làng, được thầy giáo đọc cho để học trò dùng khai bút trong ngày Tết:
Mồng một tháng kiến dần
Cảnh sắc một màu xuân.
Cỏ hoa đà mừng mặt,
Mưa móc nhẹ đưa chân.
Lớn khôn hơn một tuổi,
Mạnh giỏi chúc hai thân.
Học hành ta tấn tới,
Thi đỗ cũng có phần.
Gánh nước đầu năm và nhất bản vạn lợi
Nhân ngày mồng một Tết, tại các làng quê, và ở ngay cả các thành thị nữa, có những người nghèo túng đi gánh nước ở giếng làng tới các nhà trong làng. Gánh nước đầu năm này được mọi gia đình đón nhận niềm nở, dù trong nhà không thiếu nước. Người ta tin rằng, đầu năm có người gánh nước tới nhà, quanh năm của sẽ vào trong nhà như nước. Người gánh nước, sau khi đổ nước vào vại, vào chum, vào lu nước của nhà chủ thường được chủ nhân trả mở hàng một món tiền gấp năm gấp mười giá gánh nước, và người gánh nước cũng chúc chủ nhân những điều may mắn quạnh năm.
Có người lại cầu kỳ, hôm ba mươi Tết đi tìm người gánh nước dặn ngày mồng một Tết phải gánh nước tới nhà mình trước nhất để cái lộc đầu tiên sẽ được đổ vào nhà mình.
Cùng một ý nghĩa như gánh nước, sáng ngày mồng một Tết, tại nhiều làng có những người đàn ông tới các nhà chúc Tết, mang theo những mảnh giấy đỏ có viết mấy chữ Nhất bán vạn lợi, một vốn một vạn lời, hoặc Đại cát. Người chúc Tết trao mảnh giấy đó cho chủ nhà với những lời chúc tụng, chủ nhà nhận mảnh giấy sẽ mở hàng cho người chúc Tết một món tiền.
Giông (rủi)
Giông nghĩa là gặp sự không may quanh năm.
Ngày đầu năm, người ta tránh mọi sự có thể giông.
Một đứa trẻ không ngoan ngoãn trong ngày Tết, phải mắng hoặc phải đòn bị giông sẽ phải mắng phải đòn quanh năm.
Đầu năm cãi nhau, quanh năm sẽ cãi nhau.
Mọi người đều giữ gìn trong mọi cử chỉ, luôn luôn vui vẻ với mọi người, tránh mọi sự cau có, tránh những lời gắt gỏng, tránh những tiếng tục tằn, và tránh tất cả những cái gì có thể là một điềm gở báo trước một sự không may. Người ta kiêng tiếng khỉ, tiếng chết. Người ta lại kiêng mặc quần áo trắng, đội khăn trắng, trừ những người có tang, vì màu trắng là màu tang tóc. Và những người có đại tang, trong ngày mồng một Tết cũng kiêng không đến bất cứ nhà một người nào, e mang sự không may lại cho gia đình người đó.
Kiêng quét nhà
Trong ngày Tết Nguyên đán, người dân quê kiêng quét nhà. Nếu nhà bẩn quá, người ta chỉ quét sơ, vun rác vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ.
Quét nhà đổ rác ngày mồng một Tết, người ta sợ quét và đổ đi mất Thần Tài.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét