Và Tết đến, tục lệ hàng năm cũng trở lại với mọi người. Có Tết là có bánh chưng xanh, có vại dưa hành có câu đối đỏ, có chè lam, có ngũ vị, có cành đào, có hoa cúc, có cây nêu, có tam cúc...
Tết về nhớ bánh chưng xanh,
Nhớ tràng pháo chuột nhớ tranh lợn gà.
Nhớ cành đào thắm đầy hoa
Nhớ giây phút đợi giao thừa nghiêm trang.
Nhớ ngũ vị, nhớ chè lam,
Nhớ cây nêu, nhớ khánh vang tiếng sành.
Nhớ tam cúc tẹt, nhớ... mình!
Nhớ cân mứt lạc, nhớ khoanh giò bì..[1]
Mấy câu thơ trên của thi sĩ Bàng Bá Lân đã gợi lại biết bao hình ảnh Tết làng quê nơi đất Bắc, những hình ảnh này so với Tết làng quê miền Trung, miền Nam, tuy có khác nhưng đó chỉ là đại đồng tiểu dị.
Người Việt Nam ở đâu thì cũng vẫn những phong tục ấy, nhất là những phong tục liên quan về xuân và Tết, thì ngàn xưa tới nay, từ miền Bắc qua các miền Trung, miền Nam không bao giờ thay đổi.
Vẫn sửa soạn hân hoan đón Tết xứng đáng với vẻ tưng bừng của ngày xuân mới, rồi giây phút thiêng liêng của một năm mới đến với lễ giao thừa.
Và trước đó, nào sắm Tết, nào đi chợ Tết, nào bán hàng Tết, nào lo quần áo Tết, lo câu đối Tết, và nhất là lo tranh, pháo Tết cho con trẻ. Người ta bận rộn cho đến ba mươi Tết, và ngày hôm nay người ta càng bận rộn hơn vì còn phải lau quét lại bàn thờ lần chót, trước khi cúng mời các cụ về hưởng Tết.
Trước Tết và sau Tết, có bao nhiêu tục lệ đã chi phối đời sống người dân quê, và những tục lệ này đều được mọi người cố công gìn giữ tuân theo dù trong hoàn cảnh nào.
Pháo
Nếu tranh mang màu sắc cho ngày Tết, nếu câu đối đem ý đẹp cho mùa xuân, thì pháo mang cả màu sắc lẫn sự vui tươi tới cho con người trong dịp xuân sang Tết đến.
Có câu đối có tranh, thì phải có pháo. Cả ba, nếu người ta muốn đón Tết một cách trang trọng với đủ cả màu sắc của dân tộc, trong buổi thanh bình người ta không thể thiếu được một. Thiếu một thứ, phong vị ngày Tết chưa hoàn toàn dù trong nhà đầy bánh chưng xanh, đầy thịt mỡ dưa hành, dù ngoài sân đủ nêu cao, đủ hoa đào tươi thắm.
Bởi vậy, pháo không thể thiếu được!
Thường bắt đầu sang tháng chạp, lác đác thỉnh thoảng người ta đã được nghe tiếng pháo ở cổng làng, ở chợ làng, ở trước đình làng v.v... của một vài trẻ em ưa pháo đốt chơi.
Ca dao có câu rằng:
Thừa tiền mua pháo đốt chơi,
Pháo nổ lên trời, tiền vứt xuống ao!
Ca dao muốn nói sao thì nói, ngày Tết người ta cứ đốt pháo, dù biết rằng tiền mua pháo là tiền vứt xuống ao!
Còn gì vui bằng tiếng pháo ngày Tết! Còn gì đẹp bằng sắc pháo đỏ ngày xuân! Và còn gì hương vị bằng mùi thuốc bốc lên khi pháo nổ, nhất là gặp những ngày xuân mưa dầm gió lạnh!
Vậy thì Tết đến người ta phải đốt pháo!
Pháo được đốt nhiều bất đầu từ lúc chiều ba mươi Tết khi mọi nhà trong làng đèn hương cúng tổ tiên. Rồi tiếng pháo lác đác kéo dài cho đến nửa đêm.
Lúc này là lễ trừ tịch, tiếng pháo lại vang nổ nhiều gấp năm gấp mười lúc buổi chiều. Nhà nào ít nhất cũng đốt một bánh pháo. Cùng với tiếng pháo liên thanh, còn những tiếng pháo đùng nổ to, giữa tiếng lạch tạch của những tràng pháo nhỏ.
Pháo đốt rộ lên một lúc, tiếng pháo lại thưa cho đến sáng. Khi mọi người trong làng làm lễ đầu năm thì pháo lại nổ nhiều.
Phải nói thêm rằng, trong đêm ba mươi Tết, trời tối đen như mực, những tàng pháo đốt lên lóe lửa giống như những bông hoa cà hoa cải, điểm trang cho đêm tối.
Ngoài những lúc cúng giao thừa, cúng các cụ, người ta còn đốt pháo để mừng nhau.
Khách đến xông nhà, mừng nhà chủ, đốt một bánh pháo và nhà chủ để mở hàng mừng khách cũng đốt một bánh pháo.
Con cháu chúc Tết ông bà cha mẹ xong, đốt pháo!
Học trò đến mừng Tết thầy, đốt pháo!
Dân đến mừng Tết hương chức, đốt pháo!...
Nhiều người cầu kỳ, kén pháo để đốt ngày xuân. Người ta kén pháo toàn hỏng để xác pháo đỏ rắc đầy sân đem vui mừng lại quanh năm. Người ta lại kén pháo kêu đều, kén pháo nổ to, và kén pháo điện quang để khi đốt lên hoa lửa bắn ra.
Pháo giữ một vai trò quan trọng trong ngày Tết của dân quê. Giàu nghèo gì, cũng phải có bánh pháo để mừng xuân, cũng như phải có tranh Tết để dán trên tường, đúng như lời ông Tú Xương:
Đì đẹt ngoài sân trọng pháo chuột,
Om xòm trên vách bức tranh gà.
Có nhiều làng có tục thi đốt pháo như ở làng Thị Cầu vào ngày mồng ba Tết. Hôm đó, một quả pháo đại thật lớn được treo trên cột cờ, rồi dân làng dùng những quả pháo nhỏ đốt ném lên để đốt quả pháo đại. Ai ném đốt được quả pháo lớn thì được thưởng.
Nguyên làng này trước đây có nghề làm pháo, dân làng nhà nào cũng làm pháo, nhưng chỉ làm pháo đùng ngòi ngang, nghĩa là ngòi dùi ngang bụng pháo, không dùi dọc đầu pháo như pháo tràng. Pháo này gọi là pháo nến, vì trông giống cây nến.
Để ném đốt quả pháo đại, họ tự làm lấy những pháo nến, thuốc pha riêng và giấy làm pháo là loại giấy bắt lửa. Quả pháo nổ lên, lửa ở thuốc pháo bắt vào giấy pháo, bắn sang ngòi quả pháo đại và như vậy quả pháo đại bắt nổ. Nói như vậy nhưng dùng pháo nhỏ đốt được quả pháo đại thật khó khăn, có nhiều năm không có người nào đốt nổi, ông cai đám phải cầm hương đốt.
Tóm lại, kể từ chiều ba mươi Tết, người ta đốt pháo, và luôn trong mấy ngày Tết, tiếng pháo như điểm cho cung bực của phong vị ngày xuân. Sáng ngày mồng bốn Tết, người ta cũng đốt pháo nhiều nhân dịp cúng hóa vàng tiễn các cụ.
Cành đào
Ngày Tết người ta còn có tục chơi cành đào, nhất là tại miền Bắc và miền Trung, về mùa xuân có hoa đào nở.
Hoa đào màu đỏ nhạt rất hợp với cảnh xuân.
Người chơi hoa đào thường kén giống bích đào, là giống đào chỉ có hoa đỏ tươi mà không có quả.
Tục tin rằng hoa đào trừ được ma quỷ. Đây là do tích cũ về hai vị thần Uất Lũy và Thần Trà:
Xưa ở dưới gốc cây đào lớn núi Độ Sóc có hai vị thần là Thần Trà và Uất Lũy cai quản đàn quỷ. Quỷ nào làm hại dân gian bị trừng phạt ngay.
Ngày nay, cành đào ngày Tết tượng trưng cho hai vị thần trên. Ma quỷ trông thấy cành đào phải tránh xa.
Dân các làng quê, Tết đến mỗi nhà cắm một cành đào ở bàn thờ, thường là thứ đào ăn quả, dân quê không cầu kỳ, như người chơi hoa đào. Người ta chặt cành đào ở cây đào ngoài vườn, hoặc nếu trong vườn không có, thì người ta xin ở một nhà hàng xóm hoặc bất cứ một nhà nào ở trong làng.
Nhà có cây đào không bao giờ tiếc người làng, và ở đây ta lại thấy tinh thần hòa đồng tương trợ của người dân Việt nơi đồng ruộng.
Cành đào chặt về, người ta đốt phía dưới rồi cắm vào bình có nước, đào sẽ tươi tốt trong mấy ngày Tết, sẽ trổ hoa và nảy lá.
Cành đào cắm trên bàn thờ tăng vẻ huy hoàng của bàn thờ và chính là bảo vệ cho tổ tiên về hưởng Tết, vì ma quỷ thấy cành đào sẽ không bén mảng tới, và như vậy tổ tiên không bị quấy nhiễu trong những ngày Tết.
Làng sửa soạn tết
Từ trên mới trình bày các tư nhân trong làng sửa soạn Tết, gia đình nào lo cho gia đình nấy, nhưng ngoài cái Tết riêng của mỗi gia đình, dân làng còn phải nghĩ đến cái Tết chung của cả làng.
Cái Tết chung đây, tức là Tết ở đình làng và ở chùa làng.
Tại đình làng
Ông cai đám và ông thủ từ phải lo lau dọn bàn thờ ở đình, bắt tuần phiên cắm cờ ở sân đình và ngày ba mươi Tết, một cây cờ đại trên một cột cờ rất cao, và một số các cờ ngũ hành ở trước cửa đình.
Nếu làng có mở hội xuân, các tuần phiên lại được lệnh làng đi chặt tre để sửa soạn cây đu của hội làng.
Tại chùa làng và sự tích cây nêu
Đây là ở đình, còn chùa thì nhà sư trụ trì cũng lo lau dọn bàn thờ. Trước sân chùa có dựng một cây nêu, trên cây nêu có ngọn phướn, chiếc khánh sành lủng lẳng, chạm vào nêu vang leng keng và một bó vàng.
Các tư gia cũng có trồng cây nêu, nhưng không có ngọn phướn.
Ngoài cây nêu ra, trước sân chùa, ngoài cửa tang quan còn có rắc vôi bột vẽ cung tên để đuổi ma quỷ.
Nhiều tư gia cũng rắc vôi bột vẽ cung tên như ở chùa. Việc trồng cây nêu và rắc vôi bột vẽ cung tên do sự tích sau:
Nguyên ngày xưa có một thời quỷ sứ quấy nhiễu dân gian nhiều quá. Dân gian thấy vậy kêu với đức Phật, Phật liền giáng lâm bắt lũ quỷ sứ.
Quỷ sứ van lạy xin tha và từ sau xin chừa không dám quấy nhiễu đất của Phật.
Quỷ sứ hỏi dấu hiệu của nhà Phật để biết đường tránh. Đức Phật bảo nơi nào có cột phướn cây nêu và có rắc vôi trắng đó là đất Phật.
Từ đó, Tết đến tại chùa có trồng cây nêu ngọn phướn và rắc vôi bột vẽ cung tên để đuổi ma quỷ. Trong dân gian, theo lời Phật dạy cũng trồng cây nêu và cũng rắc vôi bột, nhưng để dọa lũ quỷ sứ, vôi bột khi rắc lại vẽ thành hình cung tên.
Ngoài việc lau dọn bàn thờ tại đình chùa, ban kỳ mục phải sắm sửa đồ lễ cúng giao thừa và để cúng trong mấy ngày Tết. Nếu dân làng mở hội xuân, ban hội đồng phải lo trù liệu mọi sự sửa soạn cho hội xuân này.
| Những tục lệ đặc biệt về tết tại một vài làng quê Từ trên nói về Tết làng, chỉ nói những điều chung cho tất cả mọi làng, nhưng nhiều làng có những tục lệ đặc biệt về Tết, nhân đây cũng xin nhắc sơ qua để bạn đọc cùng biết. Lễ trình nghề Các làng Đồng Vệ và Bích Đại, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (Vĩnh Phú), có tục lễ trình nghề vào các ngày mồng bốn và mồng năm tháng giêng. Theo lệ các làng này, vào các ngày trên, mỗi nhà nông trong làng, ngoại trừ những người có tang được miễn, phải làm một con trâu giả bằng rơm đem ra sân đình làng để làm lễ. Trâu giả được buộc vào một cái cày có lưỡi bằng gỗ, rồi một người đàn ông kéo trâu đi quanh sân đình, một người đàn ông khác cầm cày đi theo; trong lúc đó một thiếu nữ dưới 17 tuổi bưng một thúng trấu theo sau rắc vãi, giả làm thóc giống. Lại có hai người đàn ông cải trang làm đàn bà và hai người cải trang làm con trai đi theo. Lễ trình nghề để dân làng trình với đức Thành hoàng nghề nghiệp canh nông của mình cầu xin ngài phù hộ cho mưa thuận gió hòa, gặt hái được nhiều lúa. Trong buổi lễ này, cả làng đều có mặt tại sân đình. Chợ thịt heo ngày tết Làng Mỹ Lợi thuộc quận Vĩnh Lộc tỉnh Thừa Thiên có tục bán thịt heo ngày Tết. Trong những ngày sửa soạn Tết, dân làng này cho làm những chòi cao, vào khoảng ba mươi chiếc ở nơi đất trống đầu chợ. Những chòi cao này chính là những quán bán thịt heo Tết vào các ngày 29 và 30 cuối năm. Trong những ngày này bao nhiêu heo lớn trong làng đều được đem mổ thịt để bán cho dân làng dùng trong dịp Tết, và ở mỗi chòi là nơi bày bán một con heo khổng lồ. Dân làng, sắm Tết đều dành đến ngày phiên chợ thịt heo đặc biệt này mới mua thịt để gói bánh, làm cỗ Tết. Phiên chợ rất vui và rất náo nhiệt. Gia đình nào cũng có người có mặt tại phiên chợ, vì nhà nào Tết mà không cần đến thịt heo. Cả dân chúng một vài xã lân cận, biết lệ làng Mỹ Lợi cũng kéo nhau đến đây sắm thịt heo ăn Tết. Rồi Tết đến, xuân sang. Những cái chòi dùng để bán thịt heo phiên chợ Tết, trong buổi đầu xuân sẽ biến thành những chòi để dân làng đánh bài chòi. Đây là một thứ cờ bạc đầu xuân, và những người đánh bài, mỗi người ngồi trên một chiếc chòi, một chòi trung ương và các chòi chung quanh. Lối đánh bài chòi tựa tựa như tổ tôm điếm và bắt nguồn từ tỉnh Bình Định. Bài chòi có tính cách mua vui và giải trí nhiều hơn là sát phạt, và người ta cũng chỉ chơi vào dịp đầu xuân. Chợ tết xã Vĩnh Mỹ Vĩnh Mỹ cũng là một xã thuộc quận Vĩnh Lộc tỉnh Thừa Thiên. Xã này có tục họp chợ vào các ngày mồng một và mồng hai Tết, nhưng đặc biệt chợ lại không họp ngay ở địa điểm chợ mà lại họp ở một cồn cát trắng cách đó vào khoảng 1.500 thước, và mang tên là chợ Cồn. Dân làng đi chợ Cồn để mua bán thì ít, nhưng để vui xuân thì nhiều. Trong phiên chợ này, những người buôn bán mang hàng tới bán không cầu mong bán đắt hàng, mà chỉ vì lệ làng. Người ta tin rằng người buôn bán trong làng có đi bán hàng tại chợ Cồn đầu năm thì quanh năm mới buôn may bán đắt. Gọi là đi chợ để vui xuân, vì nhân dịp này những cặp trai gái trong làng hò hẹn gặp gỡ nhau và nhiều người đi chợ, chỉ mua bán tượng trưng. Về điểm tại sao phiên chợ đầu xuân không hợp ở vị trí chợ làng, lại đi họp ở cồn cát thì được các cụ giải thích: Chợ của xã Vĩnh Mỹ, trong những đêm mồng một, mồng hai Tết có người âm về họp chợ, và do đó đêm khuya, người ta từng nghe tiếng ồn ào của một phiên chợ mà không thấy người. Vì trong hai ngày này, người âm họp chợ nên trần gian phải trả chợ cho họ mà kéo nhau tới họp ở chợ Cồn. Lời giải thích như vậy, ai muốn tin thì tin, ai không tin cũng không sao, nhưng có điều hiển nhiên là dân xã Vĩnh Mỹ, trong mấy ngày Tết, họp chợ để vui xuân, người ta vẫn họp ở cồn cát mà không họp ở chợ làng. Đây là một tục lệ, đã gọi là tục lệ thì đố ai làm trái được! Mấy tục tết của làng Yên Đổ Làng Yên Đổ, quê của cụ Tam Nguyên Nguyễn Khuyến, thuộc huyện Bình Lục tỉnh Hà Nam (Hà Nam Ninh), ở cách Nam Định về phía Bắc chừng 15, 16 cây số, là một làng văn vật, và đã sản xuất ra nhiều tay văn học. Xưa kia với dịp Tết đến Xuân về, làng này có nhiều tục lệ đặc biệt. Những tục lệ này đã được ông Nhuệ Giang, ghi trong tập Yên Đổ tùng biên xuất bản tại Sài Gòn năm 1967, mà chúng tôi xin trích nguyên văn dưới đây đề bạn đọc cùng rõ. “Tục họp chợ Đồng làng Yên Đổ” “… Tục truyền ngày 25 tháng chạp, nhân dân làng Yên Đổ muốn kỷ niệm công đức của tiền nhân có một phiên chợ Đồng vào cuối năm ngay tại cánh đồng bàng Yên Đổ. Hầu hết các dân cư lân cận đều đến dự họp rất đông. Mỗi năm trước ngày 24 tháng chạp, các hàng quán đã được dựng lên san sát trên các cánh đồng khô ráo, rồi đến sáng tờ mờ ngày 24, các vị thân hào, các nhà buôn bán, trẻ con, người lớn, thanh niên phụ nữ trong khắp các vùng lân cận đã tề tựu rất đông. Sự gặp gỡ của mọi người đã được phô diễn trong cảnh tưng bừng náo nhiệt, trong buổi tất niên cùng nhau trao đổi những lời chúc tụng vào dịp tân xuân sắp tới”. Thi thơ và nếm rượu tại tường đền “Buổi sớm hôm đó là một cuộc thi văn thơ đã được các vị bô lão trong làng tổ chức ngay tại ngôi đình cạnh chợ. Các nhà văn sĩ, văn hào các nơi đều đến tập họp tại nơi Tường Đền để dự cuộc thi. Các vị khoa mục trong làng Yên Đổ và các làng gần đó làm giám khảo, những thí sinh nào trúng giải thưởng sẽ được hoan hô và được ban tặng phần thưởng rất hậu. Thực ra là một cuộc thi tao nhã và hào hứng với mục đích khuyến khích các bạn thư sinh cố gắng dùi mài kinh sử, tranh khôi đoạt giáp sau này. Sau cuộc thi thơ, các vị trúng giải đều được mời nếm rượu ở Tường Đền cùng các vị bô lão trong làng để kén rượu tốt (ngon nhất) dùng vào việc tết tự trong buổi đầu năm. Đến sau gặp hồi tao loạn, thực dân Pháp đặt cuộc đô hộ tại Việt Nam, cụ Tam Nguyên đã có bài thơ về cảnh chợ Đồng như sau: (Tuy là bài thơ tả cảnh chợ Đồng giáp Tết, lời lẽ tự nhiên, nhưng ngụ ý rất khéo về thời thế mà lúc đó không thể nói rõ hơn được nữa)”. Thơ chợ đồng Tháng Chạp, hai mươi bốn, chợ Đồng, Năm nay chợ họp có đông không? Gió trời, mưa bụi còn hồi rét, Nếm rượu Tường Đền được mấy ông? Hàng quán người về nghe xáo xác, Nợ nần năm hết hỏi lung tung. Dăm ba ngày nữa tin xuân tới, Pháo trúc nhà ai một tiếng đùng. ''Lệ săn cuốc tại làng Yên Đổ “Làng Yên Đổ, một xã 10 thôn, địa thế rộng, phần đông chuyên nghề canh đọc (đọc sách và làm ruộng). Ruộng nương thường bị chim quác, lông đen mỏ trắng, đến quấy phá làm hư hại mùa màng. Nên năm mới, vào ngày 3 và ngày 5 tháng giêng là ngày nghỉ Tết đầu xuân, cầy cấy đã xong, dân làng có tổ chức cuộc săn cuốc, để trừ bớt giống chim phá lúa, một cổ tục tù xưa. Trong ngày đó, nhân dân trong làng, trừ đàn bà và trẻ em phải trông nhà, đều đi dự cuộc săn cuốc. Các vị bô lão đi giữa đám đông, còn đi đầu và đi cuối đều là những trai tráng khỏe mạnh, kẻ khua cồng, người đánh lệnh, chen lẫn những tiếng hò reo inh ỏi, làm náo động cả một vùng, khiến cho những chim cuốc lủi trong bụi rậm, phải kinh hoảng bay chạy tứ tung, tìm nơi ẩn lánh, sa vào đám đông liền bị bắt sống. Ai bắt được chim đem nộp làng, liền được tiền thưởng do các điền chủ treo giải. Cuộc thi văn thơ, phiên họp chợ Đồng và lệ săn chim cuốc trên đây thực có ý nghĩa: xây dựng văn nghệ, phát tiền thương mại và khuyến khích thể thao, thuần phong mỹ tục của làng Yên Đổ vậy”. Nhuệ Giang Yên Đổ Tùng biên Trên đây là mấy tục lệ địa phương của mấy làng đơn cử ra để giúp bạn đọc có một ý niệm sơ lược về Tết làng với những phong tục của từng làng. Mỗi làng đều có mỗi phong tục riêng, thay đổi tùy theo dân tình, tùy theo hoàn cảnh địa dư của mỗi nơi và nhất là tùy theo vị Thành hoàng được dân làng thờ phụng. Những tục lệ đặc biệt của các làng xã nhiều lắm, nhưng chúng tôi chỉ giới hạn kể ra vài bốn nơi nói trên vì phạm vi chật hẹp của chương sách. Nghi lễ Tết nguyên đán trong các cung đình Việt
Tết Nguyên đán trong cung đình thể hiện nổi bật nhất, trang trọng nhất nghi thức của Tết Việt xưa. Ngoài những nét cổ truyền và phổ biến như Tết trong dân chúng, Tết nơi cung đình mang dáng vẻ độc đáo riêng của sự tôn nghiêm và quyền lực. Tết Nguyên đán trong cung đình thời Nhà Trần (1226-1400): Tết Nguyên đán trong cung đình được nhà Trần tổ chức rất trọng thể, kéo dài từ ngày lập Xuân đến tận tháng Hai. Tháng Chạp, ngày lập Xuân, các quan văn võ mặc lễ phục, cài hoa lên đầu, vào Đại nội dự yến. Ngày 28 tháng Chạp, các quan tháp tùng Vua ra tế đền Đế Thích ngoài thành Thăng Long. Sáng 30 Tết, vua ngự trên Đoan Cung, các quan vào làm lễ rồi xem múa hát. Buổi chiều, Vua sang cung Động Nhân bái yết Thượng hoàng. Đêm đến, các vị sư vào Đại nội tụng kinh và làm lễ Khu ma (lễ đuổi ma quỷ). Mồng 1 Tết, khoảng canh 5, Vua ra điện Vĩnh Thọ cho con cháu và quan tướng làm lễ bái hạ. Sau đó, Vua đến cung Trường Xuân, hướng về các lăng tiên tổ làm lễ vọng bái. Buổi sáng, vua ra điện Thiên An, Hoàng hậu và phi tần đã chờ ở đấy, các quan nội thần trên điện, nhạc công tấu nhạc trước sân rồng; các hoàng tử, thân vương cùng các quan tướng xếp hàng làm lễ bái hạ và dâng 3 tuần rượu. Xong, các hoàng tử lên điện, các quan nội thần ngồi bên tiểu điện phía Tây, các quan ngoại thần ngồi hai bên tả hữu. Vua cùng mọi người dự yến đến trưa và sai thợ làm nhanh đài Chúng tiên hai tầng, trang trí vàng bạc sáng ngời, đặt ở trước điện. Vua ngồi lên đài, các quan quỳ lạy dâng 9 tuần rượu chúc thọ rồi ra về. Mồng 2 Tết, quan tướng ăn Tết tại gia. Mồng 3 Tết, Vua ngự trên lầu Đại Hưng xem hoàng tử, con quan và các nội giám đánh cầu-một trò chơi thượng võ đầu Xuân rất được ưa chuộng nơi cung đình nhà Trần. Mồng 5 Tết, làm lễ khai hạ (nhân dân thì tổ chức vào mồng 7 Tết), Vua ban yến ở nội điện; quan tướng đến dự yến xong, du ngoạn vườn Thượng uyển hoặc đi lễ các đền chùa ngoại thành. Rằm tháng Giêng, giữa sân trong cung dựng một cây đèn khổng lồ (gọi là đèn Quảng chiếu), trên thắp hàng vạn ngọn sáng rực cả trời đất. Các vị sư đi quanh đèn tụng kinh, còn quan tướng thì làm lễ Triều đăng. Tết Nguyên đán trong cung đình thời Nhà Lê-Trịnh (1599-1786): Tết Nguyên đán trong cung đình thời nhà Lê-Trịnh ngắn hơn và nặng về nghi lễ, ít trò vui chơi giải trí. Sáng mồng 1 Tết, Tiết chế phủ (con trai cả của chúa Trịnh) vâng lệnh chúa dẫn quan tướng mặc lễ phục vào chầu Vua Lê, làm lễ chúc mừng năm mới. Trước đó một ngày, Ty Thượng thiết đã đặt ngự toạ ở điện Kính Thiên, bày hương án trước ngự toạ. Ty Giáo phường chuẩn bị Thiều nhạc, Đại nhạc phía Đông-Tây sân rồng. Ty Thủ vệ dàn cờ quạt, khí giới theo đúng nghi thức. Giữa công đường, bộ Lễ, Ty Nghi chế đặt một chiếc án, trên đó để tờ biểu của sứ Ty Đô tổng binh. Thừa chính cùng Ty Hiến sát chúc mừng Vua. Các quan bộ Lễ và Ty Thừa trực đêm ở công đường, đợi tới gần canh 5 thì rước án biểu vào cung, trên che tàn vàng, cờ trống và nhạc đi trước, văn võ theo sau. Cục Thừa dụ khiêng án biểu đến cửa Đoan Môn, đặt ở phía Đông sân rồng. Trống nghiêm hồi thứ nhất, các quan xếp hàng ngoài cửa Đoan Môn. Trống nghiêm lần thứ hai, viên Đạo lễ dẫn Tiết chế phủ vào điếm trước sân rồng ngồi chờ. Trống nghiêm hồi thứ ba, các viên chấp sự vào điện Vạn Thọ lạy 5 lạy 3 vái rồi rước vua ra điện Kinh Thiên. Viên Đạo lễ dẫn Tiết chế phủ vào đứng ở sân rồng. Các quan văn võ xếp hàng hai bên Đông-Tây sân rồng. Các quan Ty Thừa và triều yết đứng ngoài cửa Đoan Môn. Vua lên ngự tọa. Giáo phường tấu nhạc. Quan Tuyên biểu quỳ tâu và dâng biểu chúc mừng. Quan đại trí từ đọc lời cầu chúc của Tiết chế phủ và bách quan văn võ. Quan Truyền chế đọc lời đáp của Vua. Các quan lạy tạ 4 lần. Nhạc tấu khúc Hưu minh, Vua lên kiệu về cung, kết thúc buổi chầu. Ở phủ chúa Trịnh, viên Tư thiên giám chọn giờ tốt để chúa đi lễ Thái Miếu, Cung Miếu. Mồng 1 Tết, hiệu Thiên hùng bắn súng, hiệu Thị trung đánh trống, quân cấm vệ đứng hầu hoặc đi tuần xung quanh... Chúa lễ xong, phiên Binh ban thưởng tiền xuân cho quan tướng. Tiết chế phủ dẫn các quan xếp hàng tiến vào lạy mừng. Chúa ban yến. Dự yến xong, các quan làm lễ tạ ơn, rồi sang phủ Tiết chế chúc mừng năm mới, sau đó về ăn Tết tại gia. Tết Nguyên đán trong cung đình thời Nhà Nguyễn (1802-1945): Trong cung đình nhà Nguyễn, ngày 20 tháng Chạp làm lễ Phát thức (lễ rửa ấn). Các quan mặc áo xanh, ra chầu ở điện Cần Chính. Vua đến, mọi tủ chứa ấn đều được mở. ấn được rửa bằng nước thơm rồi niêm phong cẩn thận, không dùng trong dịp Tết. Ngày 22 tháng Chạp, làm lễ Hạp hương (lễ mời các tiên đế về ăn Tết) ở điện Thái Miếu. Ngày 30 tháng Chạp, làm lễ Thượng tiên (lễ dựng cây nêu). Vua ra điện Thái Hòa dựng nêu xong, dân chúng mới được dựng ở nhà mình. Cũng ngày hôm ấy, tổ chức thiết triều cuối năm. Tại điện Thái Hòa, đặt một hoàng án để tờ biểu của quan lại trung ương, một hoàng án để tờ biểu của quan lại địa phương chúc mừng Nhà Vua. Giữa điện trải chiếu bái cho các hoàng tử, hoàng thân, hai bên là chỗ bái của các quan văn võ từ tam phẩm trở lên. Các quan từ tứ phẩm trở xuống đứng dưới sân rồng. Hai phía Đông-Tây có tám hàng lính cấm vệ dàn hầu và đội nhạc cung đình tấu nhạc. Sáng mồng 1 Tết, đầu canh năm, trống nghiêm hồi thứ nhất, viên Quản vệ dàn bày cờ quạt, nghi trượng... Trống nghiêm hồi thứ hai, các quan mặc lễ phục vào chực sẵn trên sân điện Thái Hòa. Mờ sáng, trống nghiêm hồi thứ ba, trên kỳ đài kéo cờ đại và các sắc cờ khánh hỷ. Quan Khâm thiên giám báo giờ. Vua đội mũ cửu long, mặc hoàng bào, cầm hốt trấn khuê ngự ra điện Cần Chính rồi được mời lên kiệu, long trọng rước sang điện Thái Hòa. Nhạc tấu, 9 phát súng lệnh nổ, viên thái giám đốt hương trầm, quan nội các tiến lên hoàng án lấy biểu chúc mừng trao cho quan tuyên đọc. Đọc xong, các quan lạy tạ. Quan phụng chỉ đọc lời đáp của Vua. Nhạc tấu khúc Hòa bình, Vua lên kiệu về điện Cần Chính. Tại đây, các hoàng thân, hoàng tử và quan văn võ từ tứ phẩm trở lên chia ban đứng hầu. Thái giám dẫn các hoàng đệ, hoàng tử nhỏ tuổi đến lạy mừng, lạy 5 lạy. Vua ban yến và thưởng tiền xuân cho mọi người... Mồng 1 và mồng 2 Tết, nhà vua tiếp tục ban yến cho hoàng tộc và quan tướng. Mồng 4 Tết, cử hành lễ Triều minh: Vua đi tế lễ các đền miếu quốc gia. Cũng trong dịp đầu năm, tổ chức lễ Tịch điền: Vua đích thân cày ruộng để làm gương cho dân chúng. Từ năm 1829 trở đi, còn cử hành thêm lễ Nghênh xuân, lễ Tiến xuân, lễ Xuất binh... rất tưng bừng. Từ đời Đồng Khánh về sau, các vua Nguyễn thường tổ chức du xuân để thưởng thức cảnh năm mới và xem dân chúng vui Tết. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét